A. THÔNG TIN THỊ XÃ

* THÔNG BÁO NHANH KẾT QUẢ ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ THỊ XÃ LẦN THỨ II, NHIỆM KỲ 2020- 20205

Từ ngày 15 đến ngày 17/7/2020, Đại hội đại biểu Đảng bộ thị xã Kỳ Anh lần thứ II, nhiệm kỳ 2020-2025 được tổ chức thành công. Tham dự Đại hội có 175 đại biểu, đại diện cho 4.286 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Sau 03 ngày làm việc nghiêm túc, với tinh thần trách nhiệm cao, thiết thực, đại biểu dự Đại hội đã phát huy dân chủ, trí tuệ, thẳng thắn thảo luận, đóng góp nhiều ý kiến quan trọng vào các báo cáo, tờ trình của BCH Đảng bộ khóa I trình Đại hội lần thứ II.

I. Đại hội đã xem xét, thảo luận và đi đến thống nhất những nội dung:

1. Về chủ đề đại hội:“Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ, đoàn kết, sáng tạo; khai thác có hiệu quả các nguồn lực,tiềm năng, lợi thế,trọng tâm là Khu Kinh tế Vũng Áng, xây dựng thị xã Kỳ Anh trở thành thành phố vào năm 2025, phát triển nhanh, bền vững theo hướng công nghiệp, hiện đại”.

2.Về phương châm chỉ đạo: “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Phát triển”.

3. Về đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã 5 năm (2015- 2020)

Nhiệm kỳ qua,trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức đan xen, đặc biệt là sự cố môi trường biển, bão số 10, đại dịch COVID-19 ảnh hưởng trực tiếp, nghiêm trọng đến đời sống kinh tế, xã hội, môi trường, an ninh trật tự trên địa bàn, nhưng các cấp ủy, chính quyền và hệ thống chính trị đã nỗ lực phấn đấu, kiên trì thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cơ bản đạt chỉ tiêu Đại hội đề ra:Kinh tế từng bước được phục hồi và phát triển; quy mô nền kinh tế được nâng lên; kết cấu hạ tầng được tăng cường; nông thôn mới, đô thị văn minh chuyển biến rõ nét; văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ;đời sống Nhân dân được cải thiện;quốc phòng - an ninh được đảm bảo; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được chú trọng;khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, phát huy, niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước được nâng lên.

3.1. Lĩnh vực Kinh tế - Xã hội, Quốc phòng An ninh

3.1.1. Kinh tế có bước phát triển khá, đạt nhiều kết quả quan trọng

- Tăng trưởng kinh tế đạt khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và xây dựng; Quy mô nền kinh tế từ 17.502,5 tỷ đồng năm 2015 tăng lên 37.045,4 tỷ đồng năm 2020 (dự kiến tăng 2,1 lần). Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2015 - 2020 đạt 15,05%.

- Công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nền kinh tế, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn.

- Sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới cơ bản đạt chỉ tiêu đề ra.

- Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch được tập trung chỉ đạo quyết liệt.

- Lĩnh vực tài chính, ngân sách vượt qua giai đoạn khó khăn từng bước ổn định. Hoạt động tín dụng, ngân hàng đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.

- Lãnh đạo thực hiện bồi thường, khắc phục sự cố môi trường biển,khôi phục sản xuất, kinh doanh được tiến hành khẩn trương, thận trọng, hiệu quả và đảm bảo ổn định

- Công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu đặc biệt được quan tâm lãnh đạo thực hiện.

3.1.2. Lĩnh vực văn hoá - xã hội tiếp tục có sự chuyển biến tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng lên:

- Văn hoá, thể thao, thông tin, truyền thông có nhiều đổi mới, hiệu quả

- Giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ đã đạt được kết quả toàn diện.

- Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân  được quan tâm chỉ đạo, chất lượng phục vụ ngày càng được nâng lên

-Thực hiện tốt chính sách người có công, chương trình giảm nghèo, an sinh xã hội

3.1.3. Củng cố, tăng cường QP-AN, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội.

3.1.4. Về thực hiện 4 nhiệm vụ đột phá:

- Huy động tối đa các nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị đồng bộ, hiện đại. Tập trung công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội mang tầm chiến lược dài hạn.

- Công tác phát triển và cung ứng nguồn nhân lực được quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, đạt kết quả tốt.

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, thân thiện, hiệu quả; gắn xây dựng nền hành chính hiện đại với nâng cao nhận thức của người dân về văn hóa, văn minh đô thị, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

- Tháo gỡ nhiều tồn đọng, vướng mắc trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tạo tiền đề triển khai các dự án chuyển giao và các dự án mới trên địa bàn.

3.2. Về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

3.2.1. Công tác chính trị, tư tưởng được quan tâm, đổi mới, hiệu quả

3.2.2. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên với nhiều cách làm hay, hiệu quả.

3.2.3. Công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên và bảo vệ chính trị nội bộ được tập trung chỉ đạo thực hiện, một số lĩnh vực đạt kết quả khá rõ nét.

3.2.4. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng được tăng cường, có nhiều đổi mới

3.2.5. Công tác nội chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí được tập trung chỉ đạo

3.2.6. Công tác dân vận và hoạt động của MTTQ, các đoàn thể chính trị-xã hội ngày càng được quan tâm, đổi mới và đạt kết quả rõ nét hơn,

3.2.7. Đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Bên cạnh những kết quả đạt được, đại hội đã thẳng thắn nhìn nhận đánh giá các hạn chế, yếu kém, đồng thời chỉ ra nguyên nhân các hạn chế, yếu kém trên các lĩnh vực.

Từ thực tiễn công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ thị xã lần thứ I trong 5 năm qua, rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Thứ nhất, Phải chú trọnggiữ vững đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong Nhân dân; đồng thờivận dụng sáng tạocác chủ trương, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh sát với thực tế địa phương. Tranh thủ sự chỉ đạo, quan tâm, hướng dẫn của cấp trên;chủ động, sáng tạo, quyết liệt trong lãnh đạo chỉ đạo, điều hành; nghiêm minh trong kiểm tra, xử lý vi phạm.

Thứ hai, Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút các dự án trọng điểm làm động lực; khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của thị xã, phát huy nội lực, tranh thủ tối đa các nguồn lực từ bên ngoài, tập trung dồn sức cho những khâu đột phá, tạo ra tốc độ tăng trưởng cao và phát triển bền vững.

Thứ ba, Tập trung giải quyết dứt điểm các vấn đề tồn đọng, nhất là trong lĩnh vực giải phóng mặt bằng, đất đai, tái định cư tạo tiền đề để thực hiện tốt công tác thu hút đầu tư các dự án trọng điểm trên địa bàn.

Thứ tư, Phát triển công nghiệp phải đi đôi với bảo vệ môi trường, tạo ra động lực mới để phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân và đi liền với thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội,đảm bảo công bằng.

Thứ năm,Chủ động nắm chắc tình hình, quan tâm giải quyết kịp thời các vụ việc phát sinh tại cơ sở,giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội tạo nềntảng, môi trường thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

4. Về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp 5 năm 2020 - 2025:

4.1. Về mục tiêu tổng quát:

Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân. Nắm bắt xu thế phát triển, khai thác, sử dụng hiệu quảcác nguồn lực, tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế nhanh, bền vững theo hướng CNH - HĐH; đẩy mạnh công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch để đảm bảo phát triển bền vững. Xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh đảm bảo vững chắc.Tiếp tục quan tâm chỉ đạo, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, nhất là ở vùng tái định cư.

Tập trung công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng, tạo  môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư. Tranh thủ mọi nguồn lực đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phục vụ sản xuất và đời sống của Nhân dân. Đẩy mạnh các hoạt động văn hoá - xã hội, đặc biệt đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.Bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với thiên tai, biến đổi khí hậu và phòng chống dịch bệnh. Tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, đảm bảo ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng thị xã Kỳ Anh trở thành Thành phố vào năm 2025.

4.2. Về các lĩnh vực đột phá.Đại hội đưa ra 3 khâu đột phá sau:

- Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ, chất lượng đảng viên mới; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cán bộ diện Ban Thường vụ Thị ủy quản lý đảm bảo phẩm chất, năng lực, uy tín và ngang tầm nhiệm vụ.

- Tập trung phát triển kinh tế đô thị, chú trọng phát triểncông nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ, tiểu thủ công nghiệp,thương mại, dịch vụ và du lịch đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý. Gắn phát triển kinh tế với đảm bảo thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử, tạo môi trường thuận lợi trong đầu tư kinh doanh;nâng cao đạo đức công vụ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chínhgắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả cải cách hành chính.

4. 3. Về các chương trình trọng điểm: Đại hội quyết nghị 6 chương trình trọng điểm như sau:

- Tập trung công tác xây dựng quy hoạch, quản lý và thực hiện quy hoạch; huy động tối đa các nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ phục vụ tốt cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn. Đưa thị xã Kỳ Anh trở thành thành phố vào năm 2025 và là trung tâm kinh tế động lực của tỉnh.

- Tập trung chỉ đạo sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ ứng dựng công nghệ cao, chú trọng khai thác, nuôi trồng thủy sản thâm canhgắn với tiêu chí Chương trình mỗi xã một sản phẩm nhằm gia tăng giá trị trong sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới nâng cao.

- Thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án đầu tư. Giải quyết dứt điểm các tồn đọng sau thực hiện Nghị quyết số 903 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, đời sống của Nhân dân.

- Ưu tiên nguồn lực cho phát triển giáo dục và đào tạo trên địa bàn; tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư các trường học tư thục trên địa bàn góp phần nâng cao chất lượng dạy học.

- Tăng cường công tác đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội và cuộc sống bình yên cho nhân dân.

4.4. Các chỉ tiêu chủ yếu:

* Kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân đạt 14,18%.

- Thu nhập bình quân đầu người đạt 80 triệu đồng/người/năm (trong đó thu nhập bình quân nội thị xã từ 60 - 65 triệu đồng/người/năm).

- Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 1,26%; CN-XD 86,43%; Thương mại, dịch vụ  12,31%.

- Tổng sản lượng lương thực: 7.600 tấn/năm.

- Tổng vốn đầu tư vào địa bàn 5 năm (2020-2025): 100.000 tỷ đồng.

- Thu nội địa theo phân cấp: 590 tỷ đồng.

- Số doanh nghiệp được thành lập mới hàng năm từ 200 - 250 doanh nghiệp.

* Văn hóa xã hội

- 100% phường đạt chuẩn văn minh đô thị. Tỷ lệ gia đình văn hóa 93%; Tỷ lệ khu dân cư văn hóa 92,5%.

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân mỗi năm từ 1,5% đến 2%.

- Cơ cấu lao động: Công nghiệp - Xây dựng 50%, Thương mại - dịch vụ 32%, Nông - lâm - thủy sản 18%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 82% (mỗi năm tăng từ2% - 2,5%).

- Có 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 02 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Trong đó,xây dựng 2 xã thành phường.

- 100% trường mầm non, tiểu học, THCS và THPT đạt chuẩn quốc gia; tiếp tục xây dựng trường trọng điểm ở các cấp học.

- Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 95%; Tỷ lệ lao động tham gia BHXH 54%.

- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 10,50/00. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em thể thấp còi đạt dưới 13,5%.

- 100% xã, phường đạt tiêu chí quốc gia về y tế; 12 bác sỹ/1 vạn dân và 34 giường bệnh/1 vạn dân.

* Môi trường

- Tỷ lệ số hộ dân được cấp nước máy tập trung (áp dụng cho khu vực thành thị)/tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch đạt QCQG (áp dụng cho KVNT) 96%.

- Tỷ lệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý đạt trên 95%.

- 100% số xã, phường đạt cơ sở vững mạnh toàn diện.

* Cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử

-  Triển khai 100% dịch vụ công (DVC) trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4. Tối thiểu 80% DVC trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4 có phát sinh hồ sơ.

- Trên 50% hồ sơ thủ tục hành chính được tiếp nhận và thụ lý qua DVC trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4 (trên tổng số hồ sơ thuộc thủ tục hành chính có triển khai DVC trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4).

* Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

-  Hằng năm, kết nạp 110 đảng viên mới trở lên;

 - Có trên 90% tổ chức cơ sở đảng, trên 80% chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở, trên 80% đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; Đảng bộ thị xã, Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.

- Tỷ lệ thu hút, tập hợp đoàn viên, hội viên đạt 85% trở lên.

- Phấn đấu không có thôn, tổ dân phố không có đảng viênvà chi bộ sinh hoạt ghép.100% người đứng đầu cấp ủy, chính quyền thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương theo quy định.

4.5. Nhiệm vụ, giải pháp:

Để thực hiện đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra, Đại hội thống nhất tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện 16 nhóm nhiệm vụ và giải phápnhư sau:

* Về kinh tế-xã hội-quốc phòng-an ninh (8 nhóm giải pháp)

- Tăng cường công tác quản lý quy hoạch và triển khai, tổ chức thực hiện hiệu quả Quy hoạch chung và các quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết.

- Tập trung đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và du lịch, phát huy tốt lợi thế là trung tâm công nghiệp, cảng biển, logistic của tỉnh trên địa bàn

+ Tập trung phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phù hợp với quy hoạch chung thị xã Kỳ Anh, quy hoạch Khu kinh tế Vũng Áng và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

+ Phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch phù hợp với cơ chế thị trường và tiềm năng, lợi thế của địa phương.

+ Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu, cung cấp sản phẩm cho Khu Kinh tế Vũng Áng.

- Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng xây dựng hạ tầng nông thôn tiệm cận các tiêu chí đô thị; gắn phát triển đô thị với mục tiêu đạt tiêu chí Thành phố vào năm 2025.

- Nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước về tài nguyên, đất đai, bảo vệ môi trường; tập trung cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án đầu tư.

- Tăng cường công tác phối hợp với Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực và tích cực xúc tiến đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn.

- Tiếp tục quan tâm phát triển toàn diện lĩnh vực văn hóa - xã hội.

- Lãnh đạo thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp trong cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh; tích cực ứng dụng công nghệ 4.0 để thúc đẩy phát triển nhanh kinh tế số trên địa bàn.

-  Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh toàn diện, giữ vững an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

* Về công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị (8 nhóm giải pháp)

- Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, tạo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong Nhân dân.

- Kiên trì thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.

- Quan tâm đổi mới nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy, cán bộ, đảng viên, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị.

- Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác KT-GS và thi hành kỷ luật đảng.

- Tăng cường, nâng cao chất lượng công tác nội chính và cải cách tư pháp; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

- Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của hệ thống chính trị; phát huy dân chủ, tạo đoàn kết trong Đảng, đồng thuận cao trong Nhân dân.

- Xây dựng chính quyền các cấp trong sạch vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ, tổ chức đảng và hệ thống chính trị với tinh thần sâu sát, gần gũi với Nhân dân, vì lợi ích chính đáng của Nhân dân.

II. Đại hội thông qua báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã khóa I. Từ kinh nghiệm khóa trước, Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã khóa II cần tiếp tục phát huy ưu điểm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác cho nhiệm kỳ tới.

III. Thông qua dự thảo các báo cáo tổng hợp ý kiến của tổ chức cơ sở đảng và các tầng lớp nhân dân thị xã đóng góp vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX.

IV. Đại hội đã tiến hành bầu cử Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã, số lượng 34 đồng chí. Bầu đồng chí Đặng Văn Thành, Uỷ viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh giữ chức Bí thư Thị ủy khóa II, nhiệm kỳ 2020-2025. Bầu Đoàn Đại biểu dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX gồm 14 đồng chí trong đó có 01 đại biểu đương nhiên.

 Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Khóa II đã họp phiên thứ nhất để bầu Ban Thường vụ; Phó Bí thư; Ủy ban Kiểm tra và Chủ nhiệm UBKT Thị ủy.

VI. Đại hội nhất trí thông qua Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ II, nhiệm kỳ 2020 - 2025.

Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ II kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân tiếp tục phát huy truyền thống của Đảng bộ, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội Đại biểu Đảng bộ thị xã lần thứ II đề ra.

B. TÌNH HÌNH TRONG TỈNH

I. Kết luận của Thường trực tỉnh ủy về sắp xếp hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh

Ngày 05/7/2020, Thường trực Tỉnh ủy họp, nghe Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo báo cáo tình hình, kết quả triển khai thực hiện việc sắp xếp hệ thống trường học trên địa bàn tỉnh; tình hình, kết quả triển khai thực hiện việc sắp xếp hệ thống trường học trên địa bàn huyện Vũ Quang và ý kiến phát biểu của đại diện lãnh đạo các ban Đảng, Ủy ban Kiểm tra, Văn phòng Tỉnh ủy, các sở, ngành, đơn vị liên quan. Thường trực Tỉnh ủy thống nhất kết luận:

1. Thời gian qua, Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh,  Sở Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, thị xã thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII và các chủ trương, nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh về phát triển giáo dục mầm non và phổ thông đạt được một số kết quả quan trọng. Đã chỉ đạo thực hiện tốt việc sắp xếp hệ thống trường học trên địa bàn; công tác xã hội hóa nguồn lực trong giáo dục và đào tạo đạt kết quả tích cực; từng bước bố trí, sắp xếp giáo viên hợp lý, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo toàn diện, góp phần ổn định tình hình và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 

Mặc dù việc sắp xếp hệ thống trường học là đúng chủ trương của Đảng, quy định của Nhà nước, phù hợp với thực tế, nhưng một số cấp ủy đảng, chính quyền và một số ngành liên quan chưa thực sự quyết liệt, kiên trì và nhất quán trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Công tác tuyên truyền, phổ biến chưa thực sự sâu sát, triển khai chưa cụ thể. Thực hiện chủ trương sắp xếp trường học trên địa bàn huyện Vũ Quang, trong đó có Trường THPT Cù Huy Cận còn lúng túng, thiếu kịp thời.  

2. Để tiếp tục thực hiện nghiêm túc việc sắp xếp hệ thống trường học theo Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII và các chủ trương, nghị quyết của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Thường trực Tỉnh ủy giao:

2.1. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy phối hợp với các đơn vị liên quan tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ trương sắp xếp trường học trên địa bàn tỉnh, tạo sự đồng thuận, thống nhất trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, đặc biệt là những địa bàn thực hiện việc sáp nhập trường học.

2.2. Ban cán sự đảng Ủy ban nhân tỉnh chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh:

 - Tiếp tục hoàn thiện, phê duyệt, chỉ đạo phê duyệt các đề án sắp xếp hệ thống trường học, tổ chức thực hiện nhất quán, đồng bộ trên địa bàn tỉnh, gắn việc sắp xếp hệ thống trường học với nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; kịp thời chỉ đạo xây dựng phương án sử dụng cơ sở vật chất tại các trường học sau sáp nhập; tiếp tục huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển giáo dục, đào tạo.

 - Chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Vũ Quang căn cứ quy mô dân số, trường lớp hiện có theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, rà soát, đánh giá để bố trí một trường THPT trên địa bàn huyện Vũ Quang đúng quy định hiện hành, phù hợp với điều kiện thực tế. Trước mắt, năm học 2020-2021, tiếp tục tuyển sinh lớp 10 Trường THPT Cù Huy Cận.

- Chỉ đạo Ủy ban nhân dân huyện Vũ Quang chủ trì, phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo kiểm tra, làm rõ, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có biểu hiện xúi giục, kích động người dân phản đối chủ trương, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh (nếu có),  làm ảnh hưởng đến tâm lý của phụ huynh, học sinh Trường THPT Cù Huy Cận, báo cáo Thường trực Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh trước ngày 15/7/2020.

- Chỉ đạo Ngành Công an phối hợp với các cơ quan liên quan trong Khối nội chính rà soát, nắm chắc tình hình, phát hiện nếu có hiện tượng kích động người dân vi phạm chủ trương, nghị quyết sắp xếp hệ thống trường học của tỉnh phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật./.

                       Nguồn: Văn phòng Tỉnh ủy                         

2. Kết quả  phong trào thi đua “Cả tỉnh chung sức xây dựng Nông thôn mới, đô thị văn minh”

Thời gian qua, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tiếp tục được các địa phương, đơn vị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện; nhiều đơn vị cấp tỉnh đã xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình nông thôn mới gắn với tiêu chí thuộc lĩnh vực phụ trách và thực hiện công tác đỡ đầu, tài trợ các xã trong xây dựng nông thôn mới, từ đó đã góp phần hoàn thành các tiêu chí, cụ thể:

- Thực hiện Chương trình Mỗi xã một sản phẩm: Được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đã có 240 ý tưởng đăng ký tham gia Chương trình năm 2020 được cấp huyện xét chọn và Văn phòng Điều phối Nông thôn mới tỉnh tổ chức kiểm tra, thẩm định chấp thuận 120 ý tưởng sản phẩm đủ điều kiện lập phương án sản xuất kinh doanh tham gia Chương trình năm 2020 (đợt 1). Tất cả các huyện, thành phố, thị xã đã xác nhận quy trình sản xuất gắn với đảm bảo an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường cho các cơ sở sản xuất có sản phẩm OCOP đạt chuẩn và đã có 66 quy trình sản xuất được niêm yết tại các cơ sở để thực hiện và giám sát. Đã ban hành kế hoạch, bộ câu hỏi để cho người dân, cộng đồng nghiên cứu và tham gia Cuộc thi tìm hiểu về Chương trình OCOP trên truyền hình và trên mạng Internet. Đã tổ chức tập huấn cho các chủ cơ sở tham gia OCOP kỹ năng quản trị kinh doanh, kỹ năng bán hàng và hướng dẫn thành lập Hội quán.

- Phong trào xây dựng Khu dân cư NTM kiểu mẫu, vườn mẫu tiếp tục được các địa phương tập trung chỉ đạo thực hiện, nhất là tại các xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu năm 2020, các địa phương thực hiện tốt như: Can Lộc, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Vũ Quang...; Đến nay toàn tỉnh có 549 thôn đăng ký phấn đấu đạt chuẩn khu mẫu và 1049 vườn hộ triển khai xây dựng vườn mẫu đạt chuẩn trong năm 2020.

- Có 17 xã đăng ký phấn đấu đạt chuẩn trong năm 2020, đến nay tất cả các xã đều đạt từ 14 tiêu chí trở lên, trong đó 03 xã (Thạch Lạc - huyện Thạch Hà; Cẩm Nhượng, Cẩm Thịnh - huyện Cẩm Xuyên) đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, 05 xã đạt 16 tiêu chí, 05 xã đạt 15 tiêu chí và 04 xã đạt 14 tiêu chí; Có 12 xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao trong năm 2020, Thạch Long, huyện Thạch Hà đạt 7/7 tiêu chí, các xã còn lại đạt từ 3 - 5 tiêu chí; 06 xã phấn đấu đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, 02 xã: Tùng Ảnh và Hương Trà đã được các sở, ngành thẩm định đạt 5/5 tiêu chí, hiện nay các xã đang xây dựng các điển hình nổi trội và hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng tỉnh bỏ phiếu công nhận.

Huyện Đức Thọ đã được công nhận huyện đạt chuẩn nông thôn mới, huyện Thạch Hà đã được Hội đồng thẩm định Trung ương nhất trí đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, công nhận đạt chuẩn nông thôn mới năm 2020; Huyện Lộc Hà đã có văn bản đề nghị thẩm tra, hiện các sở ngành đang thẩm tra tiêu chí; huyện Kỳ Anh, Hương Khê hoàn thiện và phê duyệt Đề án huyện đạt chuẩn nông thôn mới đầu tháng 7/2020. Đang hoàn thiện Đề án thí điểm xây dựng tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 trình các bộ ngành thẩm định, Đề án huyện Nghi Xuân đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, điển hình về văn hóa, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt./.

Nguồn: Văn phòng Điều phối NTM  Hà Tĩnh

3. Phong trào “Toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc” , “Vì an ninh Tổ quốc” và phong trào “Thi đua Quyết thắng”

Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc gắn với mở đợt cao điểm ra quân truy quét, trấn áp các loại tội phạm, đảm bảo an ninh, trật tự các ngày lễ lớn và đại hội đảng các cấp. Thực hiện đề án “Bố trí công an chính quy đảm nhận các chức danh Công an xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh”, tính đến ngày 12/3/2020, Công an tỉnh đã điều động, bố trí 597 công an chính quy đảm nhiệm chức danh công an xã tại 195/195 xã, phường, thị trấn. 

   - Công tác bảo vệ an ninh quốc gia: các đơn vị đã chủ động, kịp thời phối hợp các ngành chức năng triển khai các phương án, kế hoạch đảm bảo an ninh, trật tự nội, ngoại biên, tình hình trên biển bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh quốc gia, giữ vững trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới, vùng biển. Tiếp tục rà soát những vấn đề tiềm ẩn phức tạp trước thềm đại hội đảng các cấp, dư luận cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân đối với vấn đề nhân sự đại hội đảng. Duy trì tốt các hoạt động tuần tra, kiểm soát đặc biệt là trong công tác xuất nhập cảnh, nắm tình hình triển khai các mặt công tác đảm bảo an ninh tuyến biên giới, tuyến biển, đặc biệt là tình hình người Việt Nam, người nước ngoài xuất nhập cảnh qua Cửa khẩu Cầu Treo phục vụ công tác đảm bảo an ninh trật tự và phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh triển khai có hiệu quả kế hoạch cao điểm đấu tranh phòng chống các loại tội phạm trên khu vực biên giới (Bắt giữ, xử lý 68 vụ/109 đối tượng (Trong đó bắt giữ xử lý 17 vụ/20 đối tượng về ma túy; 51 vụ/99 đối tượng vi phạm pháp luật khác như khai thác trái phép lâm sản, khoáng sản; vi phạm các quy định về đánh bắt thủy hải sản; gây rối trật tự công cộng; đánh bạc; vi phạm quy chế biên giới). Tang vật thu giữ: 43 bánh hê rô in; 57 kg; và 0,4365g ma túy tổng hợp dạng đá; 01 kg Ketamin; 281.471 viên ma túy tổng hợp; 15 kg và 12 gói nhỏ cần sa; 02 xe ô tô; 04 xe máy; 03 khẩu súng ngắn và 55 viên đạn; 01 con giao mẹo và một số tang vật khác có liên quan; hoàn chỉnh hồ sơ xử phạt hành chính 662.400.000 đồng nộp kho bạc nhà nước.  Hoàn chỉnh hồ sơ khởi tố vụ án, bàn giao cho Công an 02 vụ/02 đối tượng; xử phạt vi phạm hành chính 10 vụ/16 đối tượng, nộp kho bạc nhà nước 131.300.000 đồng.) và kế hoạch đấu tranh phòng, chống tàu giã cào và hoạt động sử dụng chất nổ, kích điện khai thác hải sản trên biển, góp phần bảo vệ an ninh trên tuyến biến giới, tuyến biển.

   - Công tác bảo đảm trật tự an toàn xã hội: Công an tỉnh đã tập trung chỉ đạo các lực lượng tăng cường các biện pháp nắm, tham mưu, giải quyết tốt tình hình, tạo sự chuyển biến rõ nét về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Tiếp tục tổ chức đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm theo từng lĩnh vực, loại đối tượng; trong đó tập trung trấn áp mạnh mẽ các ổ, nhóm tội phạm hình sự hoạt động liên huyện, liên tỉnh; tội phạm hoạt động “tín dụng đen”, núp bóng doanh nghiệp; tội phạm sử dụng công nghệ cao; tội phạm ma túy; tội phạm và vi phạm pháp luật về kinh tế, môi trường; các tụ điểm tệ nạn ma túy, đánh bạc, mại dâm, buôn bán sử dụng pháo trái phép... đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn (Đã điều tra khám phá 192 vụ, 488 đối tượng phạm pháp hình sự, triệt phá 13 ổ nhóm, 150 đối tượng trộm cắp, cướp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản… (đạt tỷ lệ 87,3%), trọng án đạt tỷ lệ 100%, thu hồi tài sản tổng trị giá khoảng 3 tỷ đồng. Phát hiện, bắt giữ 570 vụ, 11 tổ chức, 602 đối tượng vi phạm pháp luật về kinh tế, môi trường, thu giữ 113,75m3 gỗ; 700m3 cát, sỏi, đất các loại; 3.459 tấn động vật, 637 cá thể động vật; 3.1237 tấn sản phẩm động vật; 250 vụ, 494 đối tượng mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy; thu giữ 36,8kg thuốc phiện; 01 bánh và 49,29g heroin; 117,05kg ma túy đá; 250.200 viên MTTH; 18 gói cỏ mỹ; 02kg ma túy khác; 262 vụ, 1.183 đối tượng đánh bạc, thu giữ hơn 2,5 tỷ đồng. Triệu tập, gọi hỏi răn đe 1.210 lượt đối tượng hình sự; giải quyết 526 vụ việc hình sự nhỏ tại cơ sở. Lập hồ sơ giáo dục tại xã, phường, thị trấn 145 đối tượng; đưa vào TGD 01 đối tượng; CSGD 03 đối tượng; diện quản lý theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP 29 đối tượng. Bắt 20 đối tượng truy nã. Tiếp nhận 392 tin, xác minh, xử lý 378 tin báo, tố giác tội phạm. Khởi tố điều tra 389 vụ, 706 bị can; kết thúc điều tra, chuyển VKS đề nghị truy tố 349 vụ, 671 bị can. Vận động thu hồi 01 quả bom, 09 quả mìn, 05 quả lựu đạn, 195 súng các loại, 163 viên đạn, 1,3kg thuốc nổ, nhiều đao kiếm các loại).

- Phong trào thi đua quyết thắng được phát động và tạo động lực mạnh mẽ trong toàn quân. Tổ chức thành công Lễ giao nhận quân năm 2020 tại 13/13 huyện, thành phố, thị xã với 1.150 tân binh, đảm bảo nghiêm túc, đúng quy định. Việc triển khai thực hiện mệnh lệnh huấn luyện chiến đấu năm 2020 chặt chẽ, nghiêm túc. Làm tốt công tác chuẩn bị huấn luyện từ khâu tập huấn bồi dưỡng cán bộ đến chuẩn bị giáo án bài giảng, mô hình học cụ, thao trường bãi tập. Triển khai kịp thời, có chất lượng nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng cơ động ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm với tinh thần đã ra quân là chiến thắng. Thường xuyên nâng cao cảnh giác, kịp thời phát hiện và xử lý tốt các tình huống, không để bị bất ngờ, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Phấn đấu đạt các chỉ tiêu “Đơn vị huấn luyện giỏi”, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện  “Mẫu mực, tiêu biểu”, “Đơn vị có môi trường văn hóa tốt”; xây dựng chi bộ, đảng bộ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc./.

Nguồn: Công an tỉnh

 

4.  Hà Tĩnh chủ động triển khai công tác phòng, chống dịch COVID-19

Sở Y tế Hà Tĩnh vừa có văn bản chỉ đạo các khu cách ly y tế tập trung chủ động “4 tại chỗ” và khuyến cáo người dân đi từ Đà Nẵng về sau ngày 11/7 khai báo y tế, tự cách ly tại nhà.

- Triển khai “4 tại chỗ” tại các khu cách ly y tế

Ngày 26/7, Sở Y tế đã có văn bản yêu cầu các cơ sở cách ly y tế tập trung đảm bảo “4 tại chỗ”: Dự phòng, cách ly, điều trị tại chỗ; cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc men, dụng cụ phòng hộ theo yêu cầu tại chỗ; kinh phí tại chỗ; nhân lực tại chỗ.Từ đó chủ động công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, khám bệnh, cấp cứu, vận chuyển cho người được cách ly khi có vấn đề bất thường về sức khỏe.

Sở cũng yêu cầu các bệnh viện tuyến huyện củng cố đội cấp cứu ngoại viện, chuẩn bị đầy đủ phương tiện, vật tư y tế để sẵn sàng đến các cơ sở cách ly trên địa bàn thực hiện khám, cấp cứu, điều trị cho người được cách ly và vận chuyển về bệnh viện khi có yêu cầu. Bệnh viện Đa khoa Hà Tĩnh sẵn sàng nhân lực và phương tiện cấp cứu ngoại viện để hỗ trợ tuyến dưới khi có yêu cầu.

Sở Y tế cũng đề nghị Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, UBND huyện, thành phố, thị xã chỉ đạo các cơ sở cách ly y tế tập trung khi có bất thường về sức khỏe của người cách ly chủ động liên hệ với các bệnh viện tuyến huyện trên địa bàn để được hỗ trợ kịp thời.

- Chủ động khai báo y tế khi đi từ Đà Nẵng trở về từ sau ngày 11/7

Liên quan đến diễn biến dịch bệnh Covid-19 tại Đà Nẵng, để ngăn chặn nguy cơ dịch lây lan, xâm nhập vào các địa phương khác, hiện nay nhiều địa phương trong cả nước đã có giải pháp, khuyến cáo người dân đi từ Đà Nẵng trở về.

Đối với tỉnh ta, theo bác sỹ Nguyễn Lương Tâm, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh (CDC), với tinh thần không chủ quan, lơ là, Hà Tĩnh đã và đang thực hiện quyết liệt các giải pháp phòng, chống dịch bệnh.

Để ngăn ngừa nguy cơ dịch xâm nhập vào địa bàn, CDC khuyến cáo người dân đi từ Đà Nẵng về Hà Tĩnh sau ngày 11/7 đến nay nên tiến hành khai báo y tế tại trạm y tế xã, phường nơi gần nhất để được theo dõi; tự giác cách ly tại nhà, nếu thấy xuất hiện các dấu hiệu sốt, ho, khó thở cần liên hệ với cơ sở y tế gần nhất.

Nguồn: Sở Y tế

 

C. TÌNH HÌNH TRONG NƯỚC

          * Tăng cường công tác phòng chống dịch COVID-19

          Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngày 25/7, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 đã ban hành công văn số 3961/CV-BCĐ về việc tăng cường công tác phòng, chống dịch COVID-19. Theo đó, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo các ngành, các cấp chính quyền không chủ quan lơ là trong công tác phòng, chống dịch COVID-19, tăng cường triển khai các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Các địa phương tăng cường tuyên truyền để nhân dân không chủ quan, thực hiện đúng và đầy đủ các quy định về phòng, chống dịch COVID-19; vận động quần chúng nhân dân thông báo kịp thời cho chính quyền địa phương khi phát hiện các trường hợp nhập cảnh trái phép trong cộng đồng để có biện pháp xử lý.

          Thành phố Đà Nẵng cũng đã chủ động triển khai nhiều biện pháp tăng cường phòng, chống dịch COVID-19, như: khoanh vùng 1.079 trường hợp tiếp xúc gần, trong đó có 288 người tiếp xúc trực tiếp với ca bệnh số 416 (F1), 791 trường hợp tiếp xúc với F1 (F2). Hiện, Đà Nẵng đã thực hiện xét nghiệm 175 mẫu và có kết quả âm tính; riêng tại Bệnh viện C Đà Nẵng có 947 người đang lấy mẫu xét nghiệm, bước đầu có 54 người có kết quả âm tính.

          Ngay trong sáng ngày 25/7/2020, tại quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, Đoàn kiểm tra công tác phòng, chống dịch COVID-19 Trung ương do Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Như Dương, Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương làm trưởng đoàn đã có buổi kiểm tra công tác phòng, chống dịch và làm việc với lãnh đạo địa phương.

          Sở Du lịch Đà Nẵng đã có văn bản đề nghị các đơn vị kinh doanh du lịch, dịch vụ trên địa bàn thành phố khẩn trương triển khai các biện pháp phòng, chống dịch, như: trang bị khẩu trang và nước sát khuẩn tại cơ sở dịch vụ cho nhân viên và khách du lịch sử dụng; đeo khẩu trang khi tiếp xúc khách, vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên, không tập trung đông người, khử trùng thường xuyên đồ sinh hoạt phục vụ khách và các vật dụng công cộng. Các đơn vị kinh doanh du lịch, dịch vụ trên địa bàn phải theo dõi sức khỏe của nhân viên, khách sử dụng dịch vụ và cung cấp ngay thông tin cho cơ sở y tế địa phương khi phát hiện các dấu hiệu bị sốt, ho, khó thở; hỗ trợ khách lưu trú hủy hoặc chuyển đổi đặt phòng vào thời gian phù hợp khi khách yêu cầu…

          Bên cạnh đó, các cơ sở lưu trú du lịch phải thực hiện đo thân nhiệt cho khách trước khi vào lưu trú, đề nghị khách khai báo thông tin lịch trình của khách, nhất là đối với khách quốc tế. Đối với khách đoàn đến Đà Nẵng tham quan du lịch trước và sau ngày 24/7/2020, các công ty lữ hành phối hợp với các đơn vị liên quan nắm thông tin và báo cáo, lưu đầy đủ thông tin của khách. Các khu, điểm du lịch trên địa bàn hạn chế tổ chức các chương trình sự kiện trong khu điểm du lịch tập trung đông người.

          Sân bay Đà Nẵng cũng sẽ không tiếp nhận các chuyến bay quốc tế (chở chuyên gia, người Việt Nam ở nước ngoài)

          * Các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19

- Giữ vệ sinh cá nhân, thường xuyên rửa tay sạch bằng xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn tay.

          - Che miệng, mũi khi ho, hắt hơi.

- Giữ khoảng cách tối thiểu 2 mét với người khác.

- Thường xuyên vệ sinh các bề mặt vật dụng hay sử dụng, như điện thoại, tay nắm cửa… bằng các dung dịch vệ sinh khử khuẩn.

- Hạn chế ở những không gian kín hoặc nơi đông người.

- Đeo khẩu trang nơi công cộng, trên các phương tiện giao thông công cộng, nơi tập trung đông người./.

          Nguồn: Bộ Y tế,

2. EVFTA - gia tăng giá trị cho nông sản Việt

          Bên cạnh những cơ hội gia tăng giá trị cho nông sản Việt, như thuận lợi về thuế suất và cơ hội đổi mới công nghệ, thì khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) đi vào thực thi từ ngày 1-8 tới đây, ngành nông nghiệp cũng sẽ đối mặt với những thách thức lớn, đòi hỏi những nỗ lực thích ứng để không bị thất thế trên sân nhà.

          * Gia tăng giá trị cho nông sản Việt

          Xuất khẩu nông sản Việt Nam hiện đứng thứ 2 Đông Nam Á và thứ 15 thế giới, có mặt tại 185 quốc gia và vùng lãnh thổ; đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng, góp phần giảm nhập siêu cho cả nước.

          Với 28 nước thành viên và dân số trên 500 triệu người, Liên minh châu Âu (EU) có nhu cầu nhập khẩu số lượng lớn hàng hóa, nhất là nông sản từ khắp các nước trên thế giới. EU hiện cũng đang là thị trường quan trọng của ngành nông nghiệp Việt Nam, đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Mỹ, chiếm 11,75% thị phần trong tổng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam năm 2019. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản sang EU ổn định ở mức gần 5 tỷ USD/năm.

          Việc Việt Nam ký EVFTA và EVIPA (Hiệp định Bảo hộ đầu tư) với EU (ngày 30/6/2019) tiếp tục mở ra cơ hội mới cho xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Theo đó, khi EVFTA có hiệu lực vào ngày 01/8 tới đây, toàn bộ nông sản xuất khẩu chính của Việt Nam sang EU sẽ được hưởng ưu đãi về thuế quan, bao gồm các mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của ta, như: gạo, cà phê, mật ong, sản phẩm chăn nuôi, hoa quả... Đối với các sản phẩm chăn nuôi sẽ có khoảng 60% dòng sản phẩm sẽ về 0% khi hiệp định có hiệu lực; khoảng 50% số dòng thuế cho thủy sản Việt Nam cũng sẽ được xóa bỏ.

          Đánh giá thêm về những cơ hội, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho biết, châu Âu thuộc vùng ôn đới nên không có điều kiện sản xuất những mặt hàng nông sản nhiệt đới. Do đó, trong thương mại song phương, Việt Nam có lợi thế tuyệt đối về sản xuất và xuất khẩu nông sản nhiệt đới sang thị trường khó tính nhưng đầy tiềm năng này.

          Riêng đối với ngành gỗ, theo Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn Trần Công Thắng, ngành chế biến gỗ sẽ được hưởng thuế suất 0% cho ít nhất 90 sản phẩm gỗ xuất khẩu từ Việt Nam; đồng thời, sẽ được giảm giá máy móc thiết bị ngành gỗ nhập khẩu từ các nước EU, qua đó, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội được tiếp cận với nguồn máy móc, thiết bị, công nghiệp, kỹ thuật cao để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm của mình. Trong những năm qua, EU luôn là thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ quan trọng của ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam. Ngược lại, EU cũng là một trong những thị trường chính cung cấp nguồn gỗ nguyên liệu cho Việt Nam. Gỗ nguyên liệu nhập khẩu từ EU được đánh giá có mức độ rủi ro rất thấp.

          Bên cạnh những cơ hội về gia tăng xuất khẩu, EVFTA có hiệu lực cũng mang lại cho người tiêu dùng Việt Nam cơ hội sử dụng các sản phẩm có chất lượng cao, giá cả hợp lý hơn từ những nước tiên tiến như thịt, sữa… Đặc biệt là một số sản phẩm trái cây ôn đới và thuỷ sản mà Việt Nam không có. Trong bối cảnh người tiêu dùng nước ta lo ngại với các loại thực phẩm kém an toàn, nhiều doanh nghiệp nước ngoài coi đây là cơ hội đầu tư, kinh doanh đầy tiềm năng trong việc sản xuất, phân phối các loại thực phẩm sạch tại Việt Nam.

          Thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 6 tháng đầu năm cho thấy, giá trị nhập khẩu các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam là trên 1,7 tỷ USD, tăng hơn 10% so với cùng kỳ năm trước. Giá thịt lợn nhập khẩu hiện rẻ hơn khoảng 20% so với thịt nội, dù thịt ngoại từ EU còn đang phải chịu thuế 15-27%. Hay với nông sản, theo Hiệp hội Rau, quả Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm đã nhập khẩu 583 triệu USD rau, quả từ Mỹ, Trung Quốc, Australia, New Zealand… Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau, quả Việt Nam lý giải: Trái cây ngoại ngày càng phổ biến là điều tất yếu khi mở cửa thị trường; bởi sản phẩm này có mẫu mã đẹp, chất lượng được cam kết theo tiêu chuẩn toàn cầu và được lòng đại bộ phận người tiêu dùng Việt.

          Ngoài ra, EVFTA có hiệu lực cũng giúp doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam tiếp cận với nguồn nguyên liệu ổn định, tiếp cận tốt hơn với công nghệ, cải thiện năng lực quản lý… Bên cạnh đó, EVFTA cũng tạo ra sức ép để các doanh nghiệp Việt Nam điều chỉnh, thay đổi phương thức kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Bởi khi rào cản thuế quan không còn là công cụ hữu hiệu để bảo vệ, thị trường nhập khẩu có xu hướng sử dụng nhiều hơn các biện pháp phòng vệ thương mại như: chống bán phá giá, chống trợ cấp… Mà EU lại là một trong những thị trường có “truyền thống” sử dụng các công cụ này.

          * Nhiều rào cản

          Cửa đã mở nhưng để có thể thông hành, hàng nông sản của Việt còn cần phải vượt qua nhiều rào cản, đặc biệt là đối với một thị trường có những đòi hỏi cao về nguồn gốc xuất xứ, chất lượng sản phẩm, hay vấn đề sở hữu trí tuệ…

          Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho biết, nông, lâm, thủy sản của Việt Nam cần phải đáp ứng những yêu cầu khắt khe để bước vào thị trường lớn. EU vốn là thị trường có yêu cầu hàng rào kỹ thuật cao về kiểm dịch động, thực vật; quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm; chống khai thác bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU); khai báo nguồn gốc gỗ hợp pháp; tiêu chuẩn bền vững về môi trường…

          Trong khi đó, theo Bà Phạm Quỳnh Mai, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), tính liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp của Việt Nam từ sản xuất đến tiêu thụ nông sản còn hạn chế. Hầu hết, các vùng nguyên liệu nông sản nằm xa nhà máy chế biến, nên gây khó khăn cho việc chế biến xuất khẩu. Đáng nói, sản xuất nông nghiệp của Việt Nam vẫn nhỏ lẻ, tự phát, trong khi ở một số nơi, nông dân chưa được hướng dẫn về sản xuất sạch, an toàn, xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng chuỗi giá trị toàn cầu cho nông sản…

          Một hạn chế nữa của nông sản Việt Nam là an toàn thực phẩm. EVFTA sẽ khiến các quy định về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc của các nước nhập khẩu ngày càng chặt chẽ và cao hơn khi giảm thuế. Việt Nam cũng sẽ phải bảo đảm tuân thủ nghiêm các quy định khác về sở hữu trí tuệ, lao động, minh bạch hóa thông tin… Bên cạnh đó, các doanh nghiệp trong nước sẽ phải tuân thủ các quy định của các nước nhập khẩu về các tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội, vấn đề lao động, bình đẳng giới, cùng với đó là những thách thức trong kiểm soát gian lận thương mại...

          Song song với việc mang lại nhiều cơ hội cho người tiêu dùng, EVFTA cũng đặt ra thách thức để các nhà cung ứng nội địa phải tự thay đổi, đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam không nhanh chóng đầu tư, nâng cao chất lượng sản phẩm, thì sản phẩm nhập khẩu sẽ chiếm lĩnh thị trường trong nước.

          * Chủ động thích ứng

          Để tận dụng cơ hội từ EVFTA, thời gian qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo tập trung tháo gỡ khó khăn rào cản an toàn thực phẩm của các thị trường xuất khẩu các sản phẩm trái cây, rau, gạo, chè; xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm nông lâm thủy sản tại thị trường EU.

          Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, vấn đề về kiểm dịch động, thực vật hiện vẫn đang là bài toán cho các nước khi mở cửa thị trường hàng hóa nông, thủy sản. Ngành Nông nghiệp cần phải tổ chức lại sản xuất để đảm bảo nguồn hàng có chất lượng, giá trị gia tăng cao, tăng giám sát từ khâu sản xuất đến chế biến, bảo quản sau thu hoạch, truy xuất nguồn gốc, vệ sinh an toàn thực phẩm, nhằm tham gia sâu hơn vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.

          Để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu nông sản sang EU, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ triển khai nhiều giải pháp, trong đó chú trọng tổ chức lại sản xuất, nâng cao chất lượng nông sản, đáp ứng các tiêu chuẩn về sản xuất sạch như VietGAP, GlobalGAP... Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng phối hợp chặt chẽ với các địa phương tập trung xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu nông sản, nhân rộng các mô hình sản xuất hữu cơ, đầu tư vào chế biến, chế biến sâu, xây dựng vùng nguyên liệu sản xuất có nguồn gốc rõ ràng. Đồng thời, tập trung khai thác tối đa những mặt hàng có thế mạnh còn nhiều dư địa xuất khẩu, như: Thủy sản, đồ gỗ, rau, quả, gạo…

          Ngoài những nỗ lực của các bộ, ngành trung ương với các chương trình hành động xúc tiến thương mại cụ thể, theo Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, bản thân các doanh nghiệp phải nỗ lực vượt qua thách thức, tận dụng tốt thời cơ. Trong đó, doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến chất lượng sản phẩm, minh bạch về nguồn gốc xuất xứ, đảm bảo về tiêu chuẩn kỹ thuật và về vệ sinh an toàn thực phẩm.

          Tiến sĩ Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cũng nhấn mạnh, doanh nghiệp phải tiến tới sản phẩm nông sản làm ra, xuất khẩu không chỉ tập trung vào số lượng mà cần quan tâm về chất lượng và giá trị. Tức là tiến tới xuất hàng hóa có giá trị cao và có thương hiệu. Thông qua đó, hạn chế việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo cách “bóc lột” mà chúng ta đã và đang làm...

          Hiệp định EVFTA sẽ có hiệu lực từ ngày 01/8/2020. Để đón đầu, các doanh nghiệp nông sản Việt không còn ở thế tiềm năng, thế mạnh nữa, mà đòi hỏi những quyết sách thay đổi nhanh chóng để tận dụng mọi cơ hội. /.

Nguồn: Bộ Công thương

3. Tiến nhanh tới mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân

          Với mục tiêu nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội và cá nhân trong thực thi chính sách, pháp luật về BHYT. Trong hơn 10 năm qua, Ngày BHYT đã thực sự trở thành một trong những sự kiện quan trọng, lan tỏa ý nghĩa, tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc của chính sách BHYT trong cộng đồng.

          * Nhiều lợi ích khi tham gia BHYT

          BHYT là một chính sách xã hội do nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng, chia sẻ rủi ro bệnh tật và giảm bớt gánh nặng tài chính của mỗi người khi ốm đau, bệnh tật, tạo nguồn tài chính hỗ trợ cho hoạt động y tế, thực hiện công bằng và nhân đạo trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đồng thời, việc tham gia BHYT cũng mang lại nhiều lợi ích quan trọng đối với mỗi cá nhân.

          Theo quy định của Luật BHYT hiện hành, người tham gia BHYT có quyền lợi sau: được cấp thẻ BHYT miễn phí đối với các đối tượng là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế khó khăn, đặc biệt khó khăn, trẻ em dưới 6 tuổi, các huyện đảo, xã đảo, người có công với cách mạng, thân nhân là cha-mẹ-vợ-chồng-con của người có công với cách mạng; được Quỹ BHYT trả toàn bộ hoặc một phần tiền khám, chữa bệnh; được chuyển đến bệnh viện tuyến trên khi bệnh nặng; được hưởng 50% chi phí điều trị ung thư…

          BHYT mang lại lợi ích vô cùng to lớn tới toàn dân. Các trường hợp bệnh nan y và hiểm nghèo như ung thư, suy thận, tim mạch, các bệnh cấp cứu... nếu không tham gia BHYT thì việc chi phí cho mỗi lần xạ trị, chạy thận, hay phẫu thuật, điều trị rất lớn. Trong khi đó, nếu tham gia BHYT thì BHYT sẽ chi trả một phần hoặc toàn bộ số chi phí trong việc khám và điều trị bệnh.

          Trong bối cảnh hiện nay, giá dịch vụ y tế được điều chỉnh theo hướng tính đúng, tính đủ thì nhu cầu được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của người dân là rất lớn và chính đáng. Việc tham gia BHYT sẽ là “phao cứu sinh” giúp đỡ cho người dân thoát khỏi “bẫy nghèo y tế”, nếu không may bị mắc bệnh”.

          * 89,8% dân số tham gia BHYT

          Cách đây 27 năm, chính sách BHYT ra đời theo Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Điều lệ BHYT. Là một chính sách an sinh xã hội mới của Đảng và Nhà nước, lần đầu thực hiện ở nước ta, công tác tổ chức thực hiện BHYT thời kỳ đầu gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, với bản chất nhân văn, ý nghĩa tốt đẹp, dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng và sự chỉ đạo sâu sát của Chính phủ, chính sách BHYT đã vượt qua những bước thăng trầm, ngày càng phát triển mạnh mẽ.

          Ngày 22/11/2012, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020; ngày 29/11/2013, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 68/2013/QH13 về đẩy mạnh thực hiện chính sách pháp luật về BHYT, tiến tới BHYT toàn dân. Nghị quyết này đặt mục tiêu: đến năm 2015 đạt ít nhất 75% dân số tham gia BHYT và đến năm 2020 đạt ít nhất 80% dân số tham gia BHYT. Ngày 28/06/2016, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 1167/QĐ-TTg về việc điều chỉnh giao chỉ tiêu thực hiện BHYT giai đoạn 2016-2020. Theo đó, đặt mục tiêu đến năm 2020 phải đạt tỷ lệ bao phủ BHYT trên 90% dân số.

          Trong những năm qua, việc đẩy mạnh thực hiện lộ trình BHYT toàn dân đã tạo động lực mạnh mẽ trong tổ chức thực hiện trên cả nước; lợi ích và hiệu quả của chính sách BHYT đã được chứng minh, làm thay đổi nhận thức, chung tay góp sức vì sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng. Tính đến năm 2019, cả nước đã có khoảng 83,5 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ 89,8% dân số, vượt gần 10% so với chỉ tiêu trong Nghị quyết 68 và vượt chỉ tiêu Thủ tướng giao tại Quyết định số 1167/QÐ-TTg là 1,7%. Trong đó, có 22 tỉnh, thành phố có tỷ lệ bao phủ BHYT hơn 90% dân số; 12 tỉnh, thành phố có tỷ lệ bao phủ từ 88,1 đến dưới 90% và 29 địa phương đạt tỷ lệ bao phủ BHYT dưới 88,1%.

          Đáng chú ý, diện bao phủ đã tập trung vào các nhóm yếu thế, như: nhóm hưu trí, mất sức lao động, bảo trợ xã hội đạt 100% (khoảng trên 3 triệu người); nhóm người lao động đạt hơn 90%; nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ như hộ cận nghèo đạt xấp xỉ 100% và gần 20 triệu người tham gia theo hình thức hộ gia đình. Trong đó, số lượng người cao tuổi tham gia BHYT ngày càng tăng qua các năm. Một trong những yếu tố bảo đảm cho tỷ lệ bao phủ BHYT tăng cao là chất lượng khám, chữa bệnh BHYT ngày càng được nâng cao, đáp ứng sự hài lòng của người bệnh, nhất là tại y tế tuyến cơ sở.

          Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn trên 10 triệu người chưa tham gia BHYT. Trong đó, chủ yếu là: những hộ gia đình thoát nghèo không mua BHYT nữa do không được hỗ trợ 100%; người thuộc hộ gia đình nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình; học sinh, sinh viên. Một trong những trở ngại lớn trong thực hiện chính sách BHYT là tâm lý “cậy sức khoẻ và tuổi trẻ” của nhiều người nhất là học sinh sinh viên. Không ít bạn trẻ còn chưa nhận thức được việc tham gia BHYT là cần thiết cho bản thân, gia đình và xã hội. Không thực hiện nguyên tắc vàng “bảo hiểm khi trẻ, bảo hiểm khi khoẻ” để hưởng thụ và đề phòng lúc có tuổi và ốm đau bệnh tật.

          Ngoài ra, dù hiện nay, chất lượng khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế tuyến tỉnh và Trung ương đã tương đối tốt, đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân nhưng chất lượng khám, chữa bệnh tại các tuyến y tế xã, phường, thị trấn chưa đạt hiệu quả tích cực, làm cho người dân chưa thật sự tin tưởng vào công tác khám, chữa bệnh BHYT.

          * Tiến nhanh tới mục tiêu BHYT toàn dân

          Để đạt mục tiêu BHYT toàn dân, theo ông Bùi Sỹ Lợi - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, chúng ta phải tìm cách hỗ trợ, tuyên truyền, vận động để người lao động, người dân hiểu được tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khoẻ. Cùng với đó, cần điều chỉnh chính sách tài chính y tế, nâng cao chất lượng tuyến y tế cơ sở, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo… giúp đem lại lòng tin cho người dân về công tác khám, chữa bệnh BHYT.

          Để đạt được mục tiêu đạt 100% (hiện là 94%) học sinh, sinh viên tham gia BHYT theo chỉ đạo của Chính phủ, ông Phạm Lương Sơn cho biết, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam sẽ đẩy mạnh công tác truyền thông, xây dựng nội dung tuyên truyền phù hợp, sâu sát; tạo sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa cơ quan BHXH với các cơ sở giáo dục và chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, nghiên cứu tạo bước đột phá về cơ chế hỗ trợ tài chính cho học sinh, sinh viên trong việc tham gia BHYT.

          Ngoài nhóm học sinh, sinh viên và hộ cận nghèo, để phát triển bền vững đối tượng tham gia BHYT, ông Bùi Sỹ Lợi đề xuất BHXH Việt Nam cần quan tâm tuyên truyền, vận động để bao phủ đến nhóm lao động phi chính thức và một số doanh nghiệp có sử dụng lao động nhưng không có quan hệ lao động hoặc một bộ phận người lao động chưa được tham gia BHXH, BHYT.

          Thời gian tới, BHXH Việt Nam sẽ tiếp tục chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố thường xuyên báo cáo, xin ý kiến các cấp ủy, chính quyền địa phương để cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc thực hiện mục tiêu an sinh xã hội, trong đó có BHYT. Đồng thời, tăng cường phối hợp chặt chẽ với ngành Y tế, tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật để nâng cao chất lượng dich vụ tại tuyến cơ sở và y tế chuyên sâu. Bên cạnh đó, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, tạo nền tảng trong quá trình phục vụ người dân tham gia BHYT./.

          Nguồn: Bảo hiểm Xã hội Việt Nam

D. HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÀ NƯỚC VÀ TÌNH HÌNH QUỐC TẾ

1. Việt Nam-New Zealand thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược

Ngày 22/7/2020, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Jacinda Ardern đã đồng chủ trì Hội đàm cấp cao trực tuyến Việt Nam-New Zealand. 

Trong không khí kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-New Zealand (1975-2020), tiếp nối đà phát triển tích cực và bền vững của quan hệ Đối tác toàn diện thiết lập năm 2009, trên cơ sở lợi ích, tầm nhìn chung và mức độ tin cậy ngày càng sâu sắc giữa hai nước, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Jacinda Ardern đã cùng tuyên bố chính thức nâng cấp quan hệ Việt Nam-New Zealand lên Đối tác chiến lược.

Hai Thủ tướng tin tưởng khuôn khổ quan hệ mới sẽ tạo xung lực thúc đẩy quan hệ hai nước tiếp tục đi vào chiều sâu, ngày càng hiệu quả hơn trên tất cả các lĩnh vực, vì lợi ích của nhân dân hai nước, đóng góp vào hòa bình và thịnh vượng của khu vực Thái Bình Dương-Ấn Độ Dương.

Hai Thủ tướng nhất trí giao Bộ Ngoại giao hai nước sớm xây dựng Kế hoạch hành động triển khai quan hệ Đối tác chiến lược, trong đó có việc tăng cường trao đổi đoàn trên các kênh đảng, chính phủ và quốc hội, tổ chức gặp định kỳ giữa hai Thủ tướng, các cuộc họp thường niên giữa các Bộ trưởng Ngoại giao, Quốc phòng và Công Thương, giữa lãnh đạo Bộ Công an Việt Nam và Cơ quan Cảnh sát New Zealand, cũng như các cơ chế đối thoại song phương về nông nghiệp, hợp tác biển và các vấn đề cùng quan tâm khác.

Nhân dịp Hội đàm cấp cao và nâng cấp quan hệ, hai bên đã ra Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược Việt Nam-New Zealand và công bố 4 văn kiện hợp tác được ký kết nhân dịp này, gồm: Thỏa thuận giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính Việt Nam và Bộ Các ngành cơ bản New Zealand về tạo thuận lợi thông quan sản phẩm nông, lâm nghiệp và thuỷ sản thông qua việc sử dụng chứng nhận điện tử; Kế hoạch hợp tác chiến lược về giáo dục giai đoạn 2020-2023 giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Cơ quan Giáo dục New Zealand; Biên bản ghi nhớ về hợp tác tài chính giữa Bộ Tài chính Việt Nam và Bộ Ngân khố New Zealand; Thỏa thuận giữa Cục Dạy nghề và Đào tạo, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Việt Nam và Cơ quan hợp tác liên Chính phủ New Zealand về hợp tác trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng./.

Nguồn: Bộ Ngoại giao

2. 25 năm quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hoa Kỳ, hợp tác kinh tế - điểm sáng trong quan hệ hai nước

Chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 12/7/1995, sau 25 năm, Việt Nam và Hoa Kỳ đã trở thành một trong những đối tác quan trọng của nhau trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư là lĩnh vực có những bước phát triển vượt bậc, vừa là trọng tâm, vừa là động lực phát triển quan hệ tổng thể giữa hai nước.

* Hợp tác thương mại tăng trưởng vượt bậc

Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao đến nay, hoạt động thương mại giữa Việt Nam-Hoa Kỳ đã có sự tăng trưởng vượt bậc với những con số ấn tượng, đặc biệt là từ sau khi Hiệp định thương mại Việt-Mỹ (BTA) được ký và có hiệu lực từ ngày 10/12/2001.

Nếu như 1995 đến năm 2000 kim ngạch thương mại Việt-Mỹ chỉ tăng từ 450 triệu USD lên 1,09 tỷ USD thì từ khi có BTA đến nay con số này đã tăng lên nhanh chóng, bình quân 20%/năm: năm 2005 là 6,75 tỷ USD, năm 2010 là 18,10 tỷ USD, năm 2015 đạt 41,28 tỷ USD, năm 2019 đạt 75,72 tỷ USD, gấp 75 lần năm 2000. Năm 2019, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam chiếm 28,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Ngược lại, Việt Nam cũng là một trong những thị trường xuất khẩu có mức tăng trưởng cao nhất của Hoa Kỳ.

Đặc điểm quan trọng trong quan hệ kinh tế, thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ là tính bổ trợ cho nhau. Cụ thể, Hoa Kỳ có nhu cầu nhập khẩu lớn các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng hoặc sản phẩm mà Việt Nam có thế mạnh, như: dệt may, da giày, đồ gỗ, máy móc thiết bị điện tử... Ở chiều ngược lại, Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị công nghệ cao, thiết bị hàng không, viễn thông và nông sản nguyên liệu là những mặt hàng mà Hoa Kỳ có nguồn cung dồi dào.

Đặc biệt, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành gỗ và ngành dệt may của Việt Nam, chiếm trên 40% giá trị xuất khẩu gỗ và xấp xỉ 40% giá trị xuất khẩu dệt may hàng năm. Ước tính, mỗi năm Hoa Kỳ nhập khẩu tới 60 tỷ USD sản phẩm đồ gỗ và nội thất.

Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng thủy sản như tôm, cá tra, đóng góp khoảng 17-18% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam hàng năm. Trong 5 tháng đầu năm 2020, mặc dù ảnh hưởng từ dịch COVID-19 khiến xuất khẩu tôm ở hầu hết thị trường đều giảm, nhưng xuất khẩu tôm Việt Nam sang Hoa Kỳ vẫn ghi nhận mức tăng trưởng tốt, đạt kim ngạch 224,5 triệu USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ năm 2019.

Về nông sản, Hoa Kỳ là thị trường tiêu thụ cà phê lớn thứ 2 thế giới chỉ sau EU, trong khi Việt Nam đứng thứ 2 về sản lượng sản xuất cà phê. Việt Nam đang nắm giữ khoảng 15% tổng giá trị nhập khẩu cà phê hàng năm của Hoa Kỳ, tuy nhiên tỷ lệ này có thể cao hơn nữa nếu doanh nghiệp biết nắm bắt xu hướng và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia và doanh nghiệp, thương mại hàng hóa giữa hai nước vẫn còn rất nhiều dư địa để phát triển. Với quy mô thị trường lớn, sức tiêu thụ mạnh, Hoa Kỳ được xác định tiếp tục là thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam trong thời gian tới. Ngoài các mặt hàng đã có kim ngạch xuất khẩu hàng tỷ USD như điện thoại, linh kiện điện tử, dệt may, đồ gỗ, Việt Nam cũng có nhiều tiềm năng đẩy mạnh xuất khẩu hàng tiêu dùng và các loại nông sản.

Mặc dù tiềm năng xuất khẩu lớn nhưng các chuyên gia khuyến nghị, doanh nghiệp mới tiếp cận thị trường Hoa Kỳ cần nghiên cứu kỹ các yếu tố thị hiếu khách hàng, tính phù hợp, giá cả và khả năng cạnh tranh với các đối thủ để quyết định phương thức xuất khẩu trực tiếp hay gián tiếp cho phù hợp. Đồng thời, doanh nghiệp cần đảm bảo minh bạch thông tin truy xuất nguồn gốc cũng như xác định chính xác mã hàng hóa để giảm thiểu các rủi ro không đáng có.

* Một trong những nhà đầu tư chất lượng

Hoa Kỳ chưa nằm trong top các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư nhiều nhất tại Việt Nam nhưng được đánh giá là một trong những nhà đầu tư có chất lượng. Với nhiều dự án có giá trị cao, các doanh nghiệp đến từ Hoa Kỳ đã tích cực hợp tác, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam phát triển và tham gia đóng góp nhiều hoạt động xã hội.

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối năm 2019, Hoa Kỳ có gần 1.000 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký trên 10 tỷ USD. Dù số dự án đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam còn khá ít so với các quốc gia khác nhưng quy mô vốn trên mỗi dự án thường lớn hơn. Bên cạnh đầu tư trực tiếp, Hoa Kỳ còn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam thông qua nước thứ 3 như Singapore và một số nước châu Âu… Do đó, nếu xét đầu tư trực tiếp, dù Hoa Kỳ chưa nằm trong nhóm 10 quốc gia có vốn đầu tư lớn nhất tại Việt Nam nhưng nếu tính tổng vốn đầu tư thì Hoa Kỳ có thể xếp thứ 6 hoặc thứ 7 trong số các quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam.

Hoa Kỳ đã đầu tư vào 17/21 ngành trong hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân. Nhiều thương hiệu nổi tiếng của Hoa Kỳ, như: Citigroup, American Group, Intel, Chevron, Ford, Starwood Hotel, AIA, Dickerson Knight Group, Coca Cola, Pepsi Cola, KFC… đã có chỗ đứng vững chắc tại Việt Nam. Một trong những doanh nghiệp đầu tư sớm nhất ngay khi Việt Nam-Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao là Cargill - tập đoàn hàng đầu của Hoa Kỳ trong lĩnh vực nông nghiệp, thực phẩm và trở thành nhà sản xuất, phân phối thức ăn chăn nuôi, thủy sản lớn nhất tại Việt Nam.

Ngoài ra, ngành công nghệ Việt Nam cũng thu hút không ít nhà đầu tư Hoa Kỳ, trong đó phải kể đến dự đầu tư xây dựng nhà máy Intel Product Vietnam (IPV) của Tập đoàn Intel vào Khu Công nghệ cao TP Hồ Chí Minh năm 2006. Đây được xem là cột mốc ấn tượng trong hợp tác đầu tư từ Hoa Kỳ vào Việt Nam trong 25 năm qua với giá trị đầu tư của giai đoạn 1 hơn 1 tỷ USD. Hiện IPV đang có kế hoạch mở rộng đầu tư dự kiến cho giai đoạn 2 với số vốn khoảng 1 tỷ USD. Nối tiếp IPV, nhiều doanh nghiệp công nghệ của Hoa Kỳ như JABIL, GES, Rockwell Automation cũng lần lượt đầu tư vào Việt Nam.

Việc thu hút doanh nghiệp đến từ Hoa Kỳ đã góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và thế giới, xây dựng hình ảnh của một điểm đến đáng tin cậy cho các nhà đầu tư quốc tế.

Sự tin tưởng vào quan hệ thương mại và đầu tư song phương và khẳng định sẽ tiếp tục thúc đẩy mối quan hệ này trong thời gian tới. Đại sứ Daniel KritenBrink nhấn mạnh, mối quan hệ song phương giữa Việt Nam-Hoa Kỳ đã duy trì tốt đẹp trong suốt 25 năm qua và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Những con số về đầu tư thương mại giữa hai nước tăng dần qua từng năm là một minh chứng rõ nét cho sự phát triển hợp tác của hai nước. Mặc dù hiện tại các doanh nghiệp đều gặp nhiều khó khăn do dịch COVID -19 nhưng các doanh nghiệp Hoa Kỳ vẫn bày tỏ lạc quan vào triển vọng tương lai tại Việt Nam./.

Nguồn: Bộ Ngoại giao

3. Mỹ vạch ra giới hạn với Trung Quốc ở Biển Đông

Mỹ ủng hộ luật pháp quốc tế nhưng khó lòng ủng hộ một tuyên bố cứng rắn.
Chính quyền Trump đã có một động thái bất ngờ khi đưa ra tuyên bố về Biển Đông phù hợp với luật pháp quốc tế, dựa trên chứng cứ lịch sử và hoàn toàn phù hợp với kỳ vọng của các đồng minh và đối tác của Mỹ. Họ đặt Mỹ ngay sau lợi ích của Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Brunei và Philippines – những nước đều có tranh chấp nghiêm trọng với Trung Quốc. Đó là một động thái mạnh mẽ, nhưng câu hỏi lớn là Washington sẽ làm thế nào để hiện thực hóa tuyên bố này.

Trong tuyên bố của mình hôm 13/7, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo nói rằng ông đang điều chỉnh lập trường của Mỹ đối với các tuyên bố chủ quyền hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông theo phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài quốc tế tại La Hay. Phán quyết đó, trong vụ kiện của Philippines, bác bỏ hoàn toàn các tuyên bố chủ quyền trong nhiều thập kỷ qua của Trung Quốc đối với các nguồn tài nguyên biển vượt ngoài khuôn khổ của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Trung Quốc thậm chí còn từ chối tham gia tranh tụng cho dù đã ký kết UNCLOS và kịch liệt phản đối phán quyết này.

Nếu trong năm 2016 Rodrigo Duterte thất bại trong cuộc bầu cử tổng thống Philippines và Hillary Clinton chiến thắng trong cuộc đua vào Nhà Trắng, thì tuyên bố này hẳn đã được đưa ra từ lâu. Việc Duterte lên nắm quyền, chỉ 12 ngày trước khi phán quyết được công bố, đã dập tắt cơ hội đi theo cách tiếp cận này ngay cả vào thời điểm Tổng thống Mỹ Barack Obama vẫn đang tại nhiệm. Dễ dàng hình dung việc tuyên bố này bị bỏ quên trong một tập tài liệu nào đó suốt 4 năm qua cho đến khi một số quan chức kiên nhẫn của Bộ Ngoại giao cảm thấy có thể khôi phục hoạt động ngoại giao và các quan hệ hợp tác thiết thực trong những tháng cuối nhiệm kỳ của Tổng thống Trump. Tuy nhiên, điều gì sẽ xảy ra tiếp theo khi giờ đây Mỹ kiên định với tuyên bố này trong việc hoạch định chính sách đối với châu Á?
Các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông được chia thành hai loại: các tuyên bố lãnh thổ đối với các đảo đá có tranh chấp và các tuyên bố hàng hải đối với các nguồn tài nguyên ở vùng biển xung quanh những đảo đá đó. Mỹ tỏ ra khá hợp lý khi chưa bao giờ đưa ra quan điểm về việc nước nào có quyền sở hữu hợp pháp đối với những vùng lãnh thổ đó. Tuy nhiên, tuyên bố của Pompeo là một bước đột phá khi khẳng định rằng mọi tuyên bố lãnh thổ và hàng hải của Trung Quốc đối với bãi cạn James (Malaysia gọi là Beting Serupai và Trung Quốc gọi là Tăng Mẫu) đều không hợp pháp.

Điều này sẽ làm hài lòng Malaysia vì bãi cạn James là phần đáy biển chìm hoàn toàn dưới nước cách bờ biển Borneo khoảng 50 dặm và cách Trung Quốc hơn 600 dặm. Trung Quốc tuyên bố bãi ngầm James là vùng lãnh thổ cực Nam của họ vì một lỗi sai trong dịch thuật của ủy ban chính phủ Trung Hoa dân quốc vào năm 1934. Ủy ban này đã dịch “bãi ngầm” thành “bãi cát”, và lỗi hành chính này đã dẫn tới việc một phần đáy biển được xác định là đất liền. Năm 1947, “bãi cát” được thay bằng “cát ngầm” nhưng tuyên bố lãnh thổ vẫn được giữ nguyên. 

Những phần chủ chốt khác trong tuyên bố của Pompeo tuân thủ phán quyết năm 2016 khi khẳng định bãi cạn Scarborough (ngoài khơi bờ biển Philippines) và bất kỳ cấu trúc địa hình nào thuộc quần đảo Trường Sa trên thực tế đều không phải là đảo đúng nghĩa. Điều đó nghĩa là chúng không đủ lớn để có một vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) ở xung quanh. Một EEZ xung quanh một đảo có thể rộng tới 200 hải lý, bao gồm cả một khu vực lớn hơn nhiều so với vùng lãnh hải rộng 12 hải lý xung quanh một “đá”. Đây chính xác là điều Philippines muốn Mỹ tuyên bố và ủng hộ phán quyết của Tòa Trọng tài.

Tuy nhiên, Pompeo còn đi xa hơn khi bác bỏ mọi tuyên bố hàng hải của Trung Quốc ở những vùng biển xung quanh bãi Tư Chính (ngoài khơi bờ biển Việt Nam), cụm bãi cạn Luconia (ngoài khơi bờ biển Malaysia), các vùng biển trong EEZ của Brunei và đảo Natuna lớn (ngoài khơi bờ biển Indonesia). Bãi Tư Chính cũng là một cấu trúc địa hình chìm dưới nước giống như bãi cạn James. Cụm bãi cạn Luconia là một dãy đá ngầm thi thoảng xuất hiện các bãi cát, còn đảo Natuna lớn (Pompeo cố tình sử dụng cách gọi của Indonesia là Natuna Besar trong tuyên bố của mình) ám chỉ những vấn đề mà Indonesia đã và đang phải chịu do hành động xâm nhập của các tàu cá Trung Quốc vào EEZ của họ xung quanh quần đảo Natuna.

Do đó, theo tuyên bố này, Mỹ không phải là một kẻ ngoài cuộc can thiệp vào vấn đề Biển Đông chỉ vì quan tâm đến quyền tự do hàng hải hay cuộc cạnh tranh nước lớn với Trung Quốc, mà là một bên ủng hộ các quyền lợi hợp pháp của các nước Đông Nam Á, vốn có sự hậu thuẫn của luật pháp quốc tế đã có từ lâu theo UNCLOS. Đó chính là điều chính phủ những nước này muốn nghe. Tàu của Trung Quốc chính là thủ phạm trong những vụ đánh đắm tàu cá của ngư dân những nước này và cản trở ngành công nghiệp năng lượng ngoài khơi của họ khai thác các nguồn tài nguyên mới. Và chính những nỗ lực của Trung Quốc trong việc làm xói mòn UNCLOS mà họ đã đàm phán, ký kết và thông qua gây tổn hại đến sinh kế của người dân và nền kinh tế quốc dân ở những nước này.

Chính phủ các nước Đông Nam Á vốn đã biết tuyên bố này sẽ xuất hiện. Trước đó, các nhà ngoại giao Mỹ đã chuyển một bản không chính thức tới họ. Nhìn chung, các nước hoan nghênh những lời lẽ tốt đẹp của tuyên bố này, nhưng những lời nói hoa mỹ gần như chẳng có ý nghĩa gì. Điều mà chính phủ các nước Đông Nam Á tìm kiếm chính là sự an toàn trong EEZ của họ ở các vùng biển xa. Họ muốn biết chắc rằng họ có thể ra khơi đánh cá và thăm dò dầu khí theo quy định của UNCLOS mà không vấp phải sự đe dọa từ các lực lượng hải quân, hạm đội cảnh sát biển và dân quân biển ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc.

Sự hiện diện của Mỹ được xem là con dao hai lưỡi. Nó vừa có tác dụng răn đe, vừa có khả năng khiến các vấn đề với Trung Quốc leo thang… nhất là tình hình trở nên căng thẳng, Mỹ trở nên xao lãng bởi một vấn đề nào đó ở Trung Đông, và gánh nặng khi Trung Quốc cử nhiều tàu chiến hơn tới các vùng biển thuộc Biển Đông.

Đại sứ quán Trung Quốc tại Washington đã đáp trả tuyên bố của Pompeo bằng những ngôn từ rập khuôn sáo rỗng về việc Mỹ cố ý bóp méo thực tế và luật pháp quốc tế như thế nào. Năm 2020, hoạt động quân sự ở Biển Đông đã gia tăng đáng kể, với việc chỉ riêng tháng 7 đã có 2 nhóm tàu sân bay của Mỹ tiến hành tập trận ở đó, cùng thời điểm Trung Quốc tiến hành diễn tập hải quân. Thậm chí trước khi Pompeo đưa ra tuyên bố vào ngày 13/7, quân đội hai nước dường như đã thực hiện một loạt hành động khiến họ có xu hướng tiến gần đến một cuộc đối đầu thực sự. Trung Quốc có hàng chục tàu bán quân sự - cảnh sát biển và dân quân – di chuyển chậm xung quanh khu vực này nhằm mục đích tìm kiếm cơ hội giành lợi thế. Hải quân Mỹ lại được triển khai theo hướng ngược lại – tiến hành các chiến dịch xâm nhập và rút lui chớp nhoáng. Trong một tranh chấp về quyền sở hữu tài nguyên, lợi thế nghiêng về lực lượng có sức mạnh bền bỉ.

Khi đó, Washington thực sự có thể làm gì? Cùng với các đồng minh và bạn bè, Mỹ có thể dựng một rào chắn ở Biển Đông, đóng vai trò giám sát, công khai và chống lại những hành vi vi phạm UNCLOS. Mỹ cũng có thể bố trí các tàu của họ đằng sau tàu của chính phủ các nước Đông Nam Á đang tìm cách thực thi UNCLOS. Đó là một thế cân bằng khó có thể duy trì. Đây chủ yếu là cuộc chiến của chính phủ các nước Đông Nam Á: Mỹ hầu như không nhận được sự ủng hộ của người dân trong nước khi đổ máu để bảo vệ mỏ dầu của nước khác, cũng như không nhận được sự ủng hộ của các nước Đông Nam Á khi sử dụng khu vực này để tiến hành một trận chiến bằng vũ lực với Trung Quốc.

Và những động thái này xuất hiện vào thời điểm ban lãnh đạo Trung Quốc đã nâng tầm các vấn đề lãnh thổ quốc gia lên mức độ gần như là điều thiêng liêng. Dù là ở Hong Kong, dãy Himalaya hay Đài Loan, có vẻ như Chính quyền Tập Cận Bình coi việc bảo vệ các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc (dù không có căn cứ vững chắc) là vấn đề sinh tử của dân tộc. Xét tới tất cả những điều khác đang diễn ra trong mối quan hệ Mỹ-Trung, nguy cơ leo thang là có thật.

Trong bài phát biểu về thuyết liên Á năm 1924, Tôn Trung Sơn, một trong những người đặt nền tảng cho Trung Quốc hiện đại, đã vạch ra sự khác biệt giữa một nền văn minh châu Âu chẳng có gì ngoài sự cai trị bằng sức mạnh với một nền văn minh vượt trội ở phương Đông dựa trên sự cai trị bằng lẽ phải. Ngày nay, ngư dân Việt Nam phát hiện ra rằng ở Biển Đông, “lẽ phải” được nhất trí trong UNCLOS là điều có thể so sánh với “sức mạnh” của các tàu cảnh sát biển Trung Quốc từng đâm chìm các tàu đánh cá bằng gỗ của họ.

Ngày 13/7, Pompeo xác định lập trường của Mỹ ủng hộ “lẽ phải”, trích dẫn lời của Tôn Trung Sơn. Nhưng, như Tôn Trung Sơn cũng hiểu rất rõ, lẽ phải cũng chẳng có ích gì khi không có sức mạnh hậu thuẫn cho nó. Sẽ là hữu ích về mặt chính trị nếu Mỹ thể hiện cam kết đứng về phía lẽ phải bằng cách có được sự đồng thuận của 66 thượng nghị sĩ để chính thức phê chuẩn UNCLOS. Sử dụng sức mạnh để bảo vệ các quyền lợi hợp pháp mà không vượt quá ranh giới và gây ra chiến tranh sẽ là một thách thức khó khăn đối với Mỹ cũng như các nước bạn bè, đồng minh và đối tác của họ ở Đông Nam Á./.

Nguồn: TTXVN

4. Nội dung chính sách Đài Loan của Trung Quốc

Đối với ban lãnh đạo Trung Quốc, việc thống nhất Đài Loan không chỉ còn là biểu tượng cho thắng lợi cuối cùng của Đảng Cộng sản Trung Quốc hay điểm thu hút sự chú ý đến hình ảnh nào đó mang tính lịch sử về một Trung Quốc vĩ đại. Đây là một đòi hỏi mang tính chiến lược mà động lực thúc đẩy là vị trí chiến lược của Đài Loan và sự đối đầu ngày càng tăng giữa Mỹ và Trung Quốc. Đài Loan là “tàu sân bay không thể đánh chìm” nằm ngoài khơi bờ biển Trung Quốc, chia tách những vùng biển gần Trung Quốc, và là cầu nối giữa các đảo ở Tây Nam Nhật Bản với các đảo phía Nam Philippines và Indonesia. Đài Loan rất quan trọng đối với bất kỳ chiến lược ngăn chặn nước ngoài nào, cũng như đối với uy tín và an ninh của Trung Quốc ở biển Hoa Đông và biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) - những khu vực quan trọng đối với quốc phòng, an ninh lương thực và thương mại quốc tế của Trung Quốc. 

* Khả năng kiểm soát Đài Loan của Trung Quốc

Trong nhiều thập kỷ qua, Trung Quốc đã coi việc tái thống nhất Đài Loan là một vấn đề có thể bị trì hoãn chừng nào Bắc Kinh có thể hạn chế sự xuất hiện của các lực lượng ủng hộ mạnh mẽ nền độc lập của hòn đảo này. Để đạt được điều này, Trung Quốc đã dựa vào nhiều công cụ cùng một lúc, từ các chính sách chính trị và kinh tế mang tính hòa giải tới các hoạt động quân sự mang tính cưỡng ép và cô lập ngoại giao quốc tế. Trong những năm qua, đặc biệt dưới thời Chính quyền Tổng thống Mã Anh Cửu (2008-2016), Trung Quốc đã giảm bớt các biện pháp cưỡng ép công khai, thay vào đó, họ tìm cách tương tác nhiều hơn với Đài Loan về kinh tế và xã hội. Điều này nhằm mục đích trói buộc nền kinh tế Đài Loan với Đại lục, dập tắt tư tưởng chính trị phản đối xu hướng hợp tác, và có lẽ cuối cùng dẫn đến một sự thống nhất hòa bình theo mô hình “một nước, hai chế độ”.

Tuy nhiên, việc Thái Anh Văn đắc cử và sau đó là tái đắc cử tổng thống kết hợp với việc đảng Dân tiến (DPP) của bà vốn ủng hộ Đài Loan hơn là ủng hộ thống nhất, và việc tình hình nhân khẩu học của Đài Loan đang thay đổi - trên thực tế đã dập tắt mọi kỳ vọng còn sót lại về việc Đài Loan sẽ từ bỏ chủ quyền và sẵn sàng sáp nhập vào Đại lục. Thái Anh Văn và DPP đã bác bỏ Nhận thức chung 1992, một thỏa thuận giữa Đài Loan và Trung Quốc về việc chỉ có một Trung Quốc (cho dù mỗi bên có thể có cách giải thích riêng về việc liệu rằng đó là nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa theo chế độ cộng sản hiện nay hay Trung Hoa dân quốc trước đây), từ đó hình thành khuôn khô cho những tương tác giữa hai bờ eo biển. Gần đây, Bắc Kinh đã tăng cường sự liên kết giữa Nhận thức chung 1992 và khái niệm “một nước, hai chế độ”, theo đó khẳng định rằng bất kỳ sự đồng thuận nào cũng là sự thừa nhận rằng “một nước” ở đây chính là Trung Quốc đại lục. Trong bối cảnh áp lực chính trị bên trong Đài Loan ngày càng gia tăng, Quốc dân đảng ở Đài Loan đã rút khỏi Nhận thức chung 1992.

Trước việc Tổng thống Thái Anh Văn kêu gọi thành lập một ủy ban nhằm xem xét lại hiến pháp Đài Loan và theo đuổi một chính sách quyết đoán hơn để tiến tới ký kết các thỏa thuận thương mại với các cường quốc phương Tây và mở rộng quan hệ với các nước Đông Nam Á, Bắc Kinh lo ngại rằng Đài Loan có thể đang chuẩn bị chuyển từ trạng thái độc lập trên thực tế sang trạng thái độc lập theo pháp lý, cho dù điều này không diễn ra ngay lập tức. Thắng lợi rõ ràng của Đài Loan trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, và các sự kiện diễn ra ở Hong Kong, đang làm gia tăng thiện cảm của cộng đồng quốc tế đối với hòn đảo này tại thời điểm Bắc Kinh đang cố gắng siết chặt sự cô lập chính trị đối với Đài Loan. Việc Mỹ công nhận kết quả bầu cử và yêu cầu của Thái Anh Văn về việc hoàn tất các hợp đồng bán vũ khí mới cũng như tăng cường tuần tra ở biển Nam Trung Hoa và eo biển Đài Loan cho thấy khả năng có sự thay đổi về tình trạng an ninh và vị thế quốc tế của Đài Loan, điều mà Bắc Kinh xem là vi phạm trắng trợn chủ quyền mà họ đã tuyên bố và đe dọa an ninh chiến lược của nước này. 

* Các công cụ đối phó với Đài Loan của Bắc Kinh

Trung Quốc có 5 công cụ chính để thực hiện chính sách Đài Loan của mình: khuyến khích, phá hoại, cô lập, kiềm chế và ép buộc. Trong khi khuyến khích, phá hoại và cô lập phần lớn là sự kết hợp của các công cụ kinh tế và chính trị, thì kiềm chế và ép buộc được sử dụng nhiều trong lĩnh vực quân sự. Dưới thời Tổng thống Mã Anh Cửu, Trung Quốc chủ yếu dựa vào công cụ khuyến khích, đồng thời hạn chế sử dụng công cụ phá hoại và cô lập. 

Tuy nhiên, trước những thay đổi trong nội bộ Đài Loan và các mối quan hệ quốc tế của hòn đảo này, Trung Quốc nhận thấy công cụ đầu tiên không còn phù hợp và hiện đang chuyển sang 2 công cụ tiếp theo. Sẽ có lúc Trung Quốc sử dụng công cụ thứ tư kiềm chế, định hình không gian cuộc chiến trong tương lai để giới hạn các lựa chọn và khả năng dựa vào các cường quốc bên ngoài của Đài Loan. Công cụ thứ năm, hành động quân sự trực tiếp, là điều Bắc Kinh muốn tránh nhưng vẫn để ngỏ khả năng sử dụng trong thập kỷ tới vì tốc độ thay đổi ở Đài Loan và sự biến động trong những tương tác của Mỹ ở khu vực.

1) Khuyến khích là sử dụng chủ yếu các công cụ kinh tế, xã hội/văn hóa và chính trị nhằm thúc đẩy Đài Loan hội nhập sâu hơn vào Đại lục để làm nổi bật những lợi ích của hợp tác và cuối cùng là đi đến thống nhất. Ví dụ như:

- Mang lại lợi ích kinh tế cho các công ty Đài Loan đang hoạt động ở TQ;

- Cho phép Đài Loan tham gia các lĩnh vực của kinh tế Trung Quốc như nông sản;

- Tạm ngừng cuộc cạnh tranh “ngoại giao USD” giữa Đại lục và Đài Loan;

- Giảm bớt việc phản đối sự hiện diện của Đài Loan trên các diễn đàn quốc tế được chọn;

- Khuyến khích du lịch giữa Đài Loan và Đại lục;

- Nhấn mạnh những ràng buộc về văn hóa với Trung Quốc, cũng như sức mạnh của thị trường và kinh tế nước này.

2) Phá hoại là sử dụng các công cụ kinh tế, chính trị và thông tin để làm xói mòn sự thống nhất xã hội và chính trị ở Đài Loan, từ đó ngăn chặn việc hình thành một khối ủng hộ mạnh mẽ nền độc lập của hòn đảo này. Ví dụ như: 

- Áp dụng có chọn lọc các quy định đối với các hoạt động kinh doanh của Đài Loan ở Đại lục;

- Tham gia các chiến dịch truyền bá thông tin sai lệch ở Đài Loan và các nước có thiện cảm với Đài Loan;

- Thực hiện các hoạt động gián điệp và tấn công mạng;

- Làm phức tạp thêm tình hình thương mại và du lịch nhằm gây bất ổn, trì hoãn và tổn thất kinh tế;

- Lợi dụng các tuyên bố và các cuộc tập trận quân sự để tạo cảm giác về một Đài Loan thiếu ổn định.

3) Cô lập là thu hẹp không gian quốc tế cho các hoạt động của Đài Loan bằng việc gây ảnh hưởng tới các tổ chức toàn cầu và các nước khác theo những cách hạn chế sự tương tác của họ với Đài Loan, hay duy trì sự tương tác như vậy trong giới hạn được quy định chặt chẽ. Ví dụ như: 

- Ngăn không cho Đài Loan tham gia các diễn đàn quốc tế, như đã thấy trong cuộc họp gần đây của Tổ chức Y tế thế giới (WHO);

- Đe dọa hay thực hiện các hành động kinh tế chống lại các doanh nghiệp từ các nước thứ 3 không tuân thủ quy định của Trung Quốc coi Đài Loan là một tỉnh của nước này hay hỗ trợ hệ thống phòng thủ của Đài Loan;

- Đe dọa hay thực hiện các hành động kinh tế chống lại các nước công nhận Đài Loan hay tiến hành các hoạt động chính trị, kinh tế hoặc quân sự mà có vẻ như ủng hộ quyền tự trị và nền độc lập của Đài Loan;

- Đẩy nhanh các nỗ lực “ngoại giao USD” để cắt đứt các mối quan hệ ngoại giao chính thức còn lại của Đài Loan.

4) Kiềm chế là định hình môi trường vật chất xung quanh Đài Loan và ở những vùng biển gần Trung Quốc để tăng cường vị thế chiến lược của Trung Quốc đối với Đài Loan, và làm gia tăng phí tổn can thiệp của các cường quốc bên ngoài nếu Trung Quốc chuyển sang thực hiện các hành động quân sự nhằm ép buộc hoặc xâm chiếm Đài Loan. Ví dụ như:

- Tăng cường năng lực và tầm với của Trung Quốc ở trên không, trên mặt biển và dưới biển; 

- Mở rộng tầm bắn của tên lửa và các cuộc triển khai lực lượng để làm tăng phí tổn cho các nước khác khi can thiệp vào các vùng biển gần Trung Quốc; 

- Kiểm soát các cấu trúc địa hình quan trọng ở biển Hoa Đông và biển Nam Trung Hoa, cũng như dọc các tuyến đường chiến lược;

- Làm suy yếu các cấu trúc liên minh khu vực của Mỹ thông qua ép buộc và nhượng bộ về kinh tế, chính trị và quân sự;

- Tăng cường năng lực của lực lượng lính thủy đánh bộ và khả năng đổ bộ quân sự của Trung Quốc;

- Tăng cường và tiến hành đều đặn các hoạt động của Hải quân Trung Quốc ở những vùng biển quanh Đài Loan.

5) Ép buộc là sử dụng lực lượng quân sự để cô lập Đài Loan khỏi các liên kết kinh tế và an ninh quốc tế, làm xói mòn không gian quản lý của Đài Loan, phá hoại hoặc gây tổn tại tới cơ sở hạ tầng quan trọng của Đài Loan, làm giảm năng lực quân sự của Đài Loan, và/hoặc xâm lược và chiếm đóng Đài Loan. Ví dụ như:

- Làm gián đoạn các tuyến cung cấp quan trọng cho Đài Loan, trong đó có nguyên liệu thô và máy móc;

- Thực hiện các cuộc tấn công mạng nhằm vào chính phủ và cơ sở hạ tầng quan trọng của Đài Loan;

- Phong tỏa các cảng biển của Đài Loan bằng lực lượng hải quân;

- Đóng cửa eo biển Đài Loan và/hoặc không phận quanh Đài Loan;

- Chiếm đóng các đảo xa do Đài Loan kiểm soát;

- Thực hiện các cuộc tấn công có chọn lọc bằng tên lửa/máy bay không người lái;

- Tiến hành các cuộc đổ bộ nhằm mục đích tấn công và chiếm đóng.
Lựa chọn quân sự.

Mặc dù Bắc Kinh muốn tránh một cuộc đối đầu quân sự với Đài Loan, nhưng họ chưa bao giờ vứt bỏ lựa chọn đó. Tốc độ phát triển quân sự của Trung Quốc đã vượt xa Đài Loan và cán cân sức mạnh rõ ràng nghiêng về phía Trung Quốc, kể cả trong kịch bản Mỹ can thiệp vào cuộc xung đột giữa hai bờ eo biển. Tuy nhiên đối với Bắc Kinh, thắng lợi trong việc xâm chiếm Đài Loan bằng lực lượng quân sự không phải lúc nào cũng có thể bao biện cho mức chi phí lớn mà họ phải bỏ ra. Một cuộc xâm lược có nguy cơ không chỉ gây tổn hại đến binh sĩ và thiết bị của Trung Quốc mà còn gây ra phản ứng chính trị và kinh tế toàn cầu. 
Nếu Trung Quốc ngăn chặn Mỹ can thiệp vào việc nước này xâm lược Đài Loan, thì họ sẽ vấp phải phản ứng dữ dội của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực kinh tế và chính trị. Và không rõ một cuộc xâm lược thành công sẽ biến thành một sự chiếm đóng thành công, hay khả năng tận dụng năng lực kinh tế riêng của Đài Loan. Chừng nào ảnh hưởng tiêu cực của Trung Quốc ở Đài Loan đủ để ngăn chặn các bước đi tích cực hướng tới nền độc lập chính thức hoặc sự chiếm đóng của các lực lượng quân sự nước ngoài, thì chừng đó Trung Quốc sẽ trì hoãn các hành động quân sự trực tiếp. 

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng Trung Quốc không tích cực chuẩn bị cho một cuộc chiến trong lĩnh vực chính trị để chứng minh rằng việc Đài Loan giành được độc lập là điều vô ích. Đây cũng là cách thức cụ thể để gia tăng khả năng chiến thắng nếu có một sự thay đổi tình hình dẫn đến giao tranh. Điều này diễn ra dưới nhiều hình thức. Thứ nhất, Trung Quốc sử dụng sức mạnh kinh tế để ngăn chặn bất kỳ hành vi nào của nước ngoài thể hiện sự ủng hộ đáng kể đối với không gian quốc tế của Đài Loan. Thứ hai, Trung Quốc cũng sử dụng áp lực chính trị để định hình sự tương tác của các công ty nước ngoài và các nước với Đài Loan. Bằng việc cô lập Đài Loan về mặt ngoại giao, Trung Quốc sẽ hạn chế sức mạnh của Đài Loan và làm giảm khả năng can dự của nước ngoài khi Bắc Kinh định hình môi trường tự nhiên. 

Không gian quân sự thực tế là yếu tố được chú ý nhất trong những năm gần đây. Việc Bắc Kinh xây dựng và quân sự hóa các đảo nhân tạo ở biển Nam Trung Hoa tạo ra một vành đai phòng thủ của Trung Quốc quanh Đài Loan, cho phép nước này cản trở các tuyến đường biển quan trọng mà các cường quốc nước ngoài sẽ sử dụng để can thiệp vào tình hình căng thẳng giữa hai bờ eo biển. Việc mở rộng lực lượng lính thủy đánh bộ, tăng cường cung cấp các tàu đổ bộ và đẩy mạnh chu trình huấn luyện về lý thuyết cung cấp lực lượng cho việc chiếm đóng các đảo xa của Đài Loan và xâm lược đảo chính. Việc Trung Quốc phát triển các loại tên lửa chống hạm, kể cả tên lửa siêu thanh, làm gia tăng thêm chi phí can thiệp của các cường quốc nước ngoài. Trong khi tàu và máy bay Mỹ di chuyển quanh Đài Loan để khẳng định quyền tự do hàng hải, Trung Quốc cũng đang chuẩn bị lực lượng để ngăn chặn các cường quốc bên ngoài xâm nhập vùng biển và không phận. Trung Quốc sẽ phối hợp những nỗ lực này để định hình chiến trường trong tương lai và tiếp tục các hoạt động nhằm gây mất đoàn kết trong nội bộ Đài Loan thông qua các biện pháp kinh tế, chính trị và thông tin.

* Một khu vực gây tranh cãi nhiều hơn

Khả năng lúc này là Đài Loan sẽ không tìm kiếm nền độc lập chính thức, cho dù DPP đang cầm quyền. Tuy nhiên, Đài Loan đang tìm kiếm một môi trường quốc tế rộng lớn hơn và đang vươn tới châu Âu, Đông Nam Á và Ấn Độ để cải thiện các mối quan hệ kinh tế. Đài Loan cũng đang tìm kiếm các hệ thống vũ khí cần thiết để tăng cường năng lực phản công của mình nếu Trung Quốc xâm chiếm, trong đó có năng lực tấn công vào Đại lục để làm gia tăng phí tổn của Trung Quốc khi thực hiện bất kỳ hành động quân sự nào. Mặc dù vấn đề tái thống nhất nhìn chung đã bị rút khỏi bàn đàm phán ở Đài Loan, nhưng hòn đảo này vẫn có xu hướng duy trì sự độc lập trên thực tế chứ không phải sự độc lập về pháp lý.

Dự đoán trong vài năm tới, Trung Quốc sẽ theo đuổi chính sách phá hoại, cô lập và kiềm chế Đài Loan, đưa ra sáng kiến nào mang tính hòa giải trừ khi có các cơ hội rõ ràng từ các động cơ chính trị và kinh tế ở Đài Loan. Chính sách này sẽ bao gồm việc củng cố các đảo nhân tạo hiện tại ở biển Nam Trung Hoa mà đóng vai trò tiền đồn và điểm chốt chặn các tuyến hàng hải quan trọng (có tin đồn về việc Bắc Kinh thậm chí đang xem xét sử dụng các lò phản ứng hạt nhân nổi trên biển để giảm thiểu các vấn đề về tiếp tế và hạn chế các hành động của quân đội nước ngoài nhằm vào các tiền đồn quân sự này); triển khai thêm tên lửa chống hạm và tên lửa phòng không, kể cả tên lửa siêu thanh ở các vùng biển gần Trung Quốc và các khu vực xung quanh, tăng cường huấn luyện các nhóm tác chiến và các hoạt động đổ bộ của lĩnh thủy đánh bộ; và sử dụng các tổ chức hàng hải và hàng không dân dụng để duy trì sự hiện diện ổn định ở các khu vực mà nước này tuyên bố chủ quyền để chứng tỏ quyền kiểm soát trên thực tế. Đôi khi Trung Quốc còn được cho là sử dụng các hình thức phong tỏa lỏng lẻo khác nhau để phá vỡ liên kết kinh tế và an ninh của các nước khác với Đài Loan./.

 

 

 

 

 

 

 

 

 


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



 Bình luận


Mã xác thực không đúng.
    Bản đồ thị xã Kỳ Anh
     Liên kết website
    Thống kê: 242.645
    Online: 64