PHONG TỤC TẬP QUÁN

“ Kỳ Anh phong thổ ký ” viết năm 1930, chép: “Dân trong hạt vốn tính chất thuần phác, phong tục đôn hậu, chăm nghề ruộng nương, buôn bán mà ít ham học hành, tính cầu an, thủ cựu, không thích canh cải. Mức tiến hóa văn minh so với các hạt khác thì còn chậm. Việc hôn nhân thì không bàn đến của cải. Việc tang lễ thì theo lệ cũ. Ở đình trung thì trọng kẻ chức tước, quý người có tuổi tác. Các bậc văn nhân khoa bảng cũng được trọng vọng. Miếu mạo, văn chỉ, đền chùa nơi nào cũng có. Trong dân, qua xuân thu, lễ tiết vui mừng, việc qua lại rất là đôn hậu. Đại để phong tục tập quán so với các hạt trong miền Nghệ Tĩnh gần gần giống nhau…”

Nhận xét trên đây khá xác đáng nhưng đó cũng là những nét chung của Hà Tĩnh, của xứ Nghệ mà thôi. Kỳ Anh, vùng núi non ở miền biên viễn xưa, cho đến thế kỷ XVI, XVII vẫn là nơi chửng lại, tụ lại của dòng người từ phía bắc vào. Sống trong môi trường gần như khép kín, thiên nhiên khắc nghiệt, chiến tranh triền miên, sản xuất lạc hậu, con người chịu nghèo nàn, cực khổ lâu đời thì trở nên hẹp hòi, thủ cựu là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, điều kiện sống như vậy cũng tạo cho con người những đặc tính có phần đậm nét hơn nhiều nơi khác. Người dân ở đây chân thật đến mộc mạc, có ý thức cộng đồng làng xã cao, tự khép mình vào kỷ luật nghiêm ngặt, có khi rất khắt khe và không dễ dàng tin theo cái từ ngoài đưa đến do đó không cuồng tín. Xưa, ở đây có câu: “ Thần Đầu vô lưu nha chi án; Cấp Dẫn vô tà đạo chi dân ”. Ở Thần Đầu (Kỳ Phương, Kỳ Nam) mọi người giữ luật lệ rất nghiêm và buộc người ở xã khác đến đây cũng phải làm như vậy, họ phục tùng tuyệt đối người đứng đầu làng, đầu hạt, họ cùng nhau bàn bạc, giải quyết mọi việc ở địa phương, không bao giờ phải thưa kiện lên quan trên. Còn dân Cấp Dẫn thì không theo đạo, ở các nơi khác giáo dân cũng không phải là “ngoan đạo” lắm. Những đặc điểm trên vừa là cái hay lại vừa là biểu hiện của nếp sống cộng đồng xa xưa, nếu thiếu sự hướng dẫn đúng đắn, có thể trở ngại trên đường đi tới.

Người dân Kỳ Anh có sức bền bỉ chịu đựng gian khổ đến mức không giới hạn lại giàu nghị lực để khắc phục khó khăn và rất đỗi khí khái, quật cường. Chỉ một việc đối phó với bão tố, tinh thần ấy cũng đã rất rõ: người ta không chỉ chống, giằng nhà mà có khi dỡ hạ mái xuống, kể cả mái ngói, sau cơn bão mới lợp lại. Tính chung hàng năm, dân phải chi tới 42,9% thu nhập gia đình để làm lại và sữa chữa nhà cửa bị thiên tai tàn phá. Trong mọi hoạt động thường ngày nhất là trong các phong trào yêu nước, cách mạng, các cuộc kháng chiến, những đức tính này càng thể hiện cao độ, chói ngời. Sống tình nghĩa, thủy chung, mọi người gắn bó với nhau, với hàng xóm, người làm quan về cũng ít xa dân. Tình quê hương thắm thiết. Người ta ít muốn rời khỏi làng và người đi xa thường muốn trở về quê. Tình cảm này, lúc nào đó là sự trở ngại cho sự tiến thủ song lại là động lực thúc đẩy những hành vi tốt đẹp, những hy sinh cao cả vì quê hương, đất nước.

Nhưng cũng cần nói rằng, người Kỳ Anh xưa nay không phải hoàn toàn ít giao lưu, thiếu chí tiến thủ. “Hai ông Trạng Thần Đầu” lúc già đã từ bỏ nơi đô hội về sống với vùng quê hẻo lánh, nghèo nàn, nhưng từ thiếu thời đã quyết ra đi không chỉ để kiếm sống, mà còn để được học hành thành đạt. Trước cách mạng, không chỉ có những người buôn bán vùng chợ Cầu, cửa Khẩu…đi đó đi đây và có những người đã thành nhà doanh nghiệp trong nước hay nước ngoài mà cả những người dân làng Đồng Ngãi (Kỳ Ninh), từ 18 tháng Giêng cũng kéo nhau vào tận xứ Nam Kỳ kiếm việc làm ăn, tối năm mới lại về quê. Tưởng cũng không phải nói nhiều về hàng vạn người từ cách mạng tháng Tám 1945 lại nay đã rời quê đi làm nghĩa vụ, đi xây dựng quê mới, hay đi làm ăn, học tập ở khắp nước và nước ngoài.

Những đặc điểm tinh thần, tâm lý của người Kỳ Anh trên đây tuy có phần nào là hạn chế, nhưng chủ yếu là thuận lợi cho việc huy động lực lượng, xây dựng quê hương.

Ở Hà Tĩnh ngày trước, phong tục đại để giống nhau, nhưng mỗi huyện, mỗi vùng lại có tập quán riêng, dễ nhận. Kỳ Anh là huyện địa đầu nên còn có những điểm gần giống với Quảng Bình, phía nam. Ví như ở đây không giã gạo bằng cối đạp mà giã tay chày đôi, chày tư, vừa giã vừa hò hát theo nhịp chày. Có thể thời xa xưa, vùng đất này còn chịu ảnh hưởng đậm của văn hóa Chăm nữa. Ngày Tết, ngày hội, nhiều làng Kỳ Anh có đu tiên. Theo nhà nghiên cứu Bờ-rơ-tông (H.Le Breton) thì chơi đu tiên là một hình thức tế lễ mang tính chất tôn giáo của người Chàm, du nhập từ Ấn Độ (?). Ở Kỳ Anh ngày trước lại có loại giếng vuông, bốn bờ ghép ván. Người ta nói đó là kiểu “giếng Chàm” (1) . Đây chưa phải là những chứng cứ xác đáng nhất nhưng có thể gợi ý cho việc tiếp tục tìm hiểu vấn đề này.

Mặc dầu gần rừng, nhiều gỗ, nhưng dân nghèo và thường năm nhiều bão tố, nên nhà ở Kỳ Anh cũng như Thạch Hà, Cẩm Xuyên ngày trước đều nhỏ và thấp. Lâu đời, hình thành một quan niệm là nhà ở phải “vô bái nhà, ra bái ngõ”, nghĩa là nhà phải thấp để vào, ra phải cúi đầu cho khỏi va chạm.

Về ăn mặc thì người Kỳ Anh cũng không khác người các nơi ở Hà Tĩnh. Dân dã, bền chắc, vẫn dùng vải Đồng Môn khổ hẹp, nhuộm nâu, nhuộm đen. Quan niệm về cái đẹp hình thể vẫn là sự khỏe khắn: “ Đàn ông đóng khố đuôi lươn - đàn bà mặc ướm hở lườn mới xinh ” và đã có tiếng đồn: “ to lườn chợ Voi 

Để bạn đọc có thể hình dung được cách ăn mặc của người Hà Tĩnh, người Kỳ Anh thưở trước, xin ghi mấy nét đại thể: Dân dã thì đàn ông ngày thường đóng khố, ở trần hay mặc áo ngắn năm thân, bốn (tứ) thân (áo khách) quần dài quá gối. Tết nhất, hội hè, đình đám…thì mặc áo dài (năm thân) vải thâm hoặc nhuộm nâu bầm, quần trắng, khăn vấn thủ rìu hay vấn vành, đi guốc quai mây hoặc chân đất. Đàn bà mặc áo cánh nâu, yếm nâu, váy đen (thường là nhuộm nâu bầm, nhúng bùn đen), khăn thâm hoặc nâu non. Khá hơn thì có cái áo dài nâu non mặc ngoài thắt qua ra phía sau. Người đàn ông giàu có, chức dịch, nho sĩ thì ngày thường cũng mặc như kiểu dân dã, chỉ khác loại hàng tấm và dôi dài hơn, thường áo quần nái hay lụa để trắng hoặc nhuộm nâu da bài, ngoài là áo dài the, lương đen (rất sang mới mặc gấm, xa-tanh), quần trắng “tây cống”(2), dây lưng nái hoặc lụa, vấn khăn nhiễu hoặc đội khăn đóng, đi guốc “xà goòng” hoặc giày hạ…Đàn bà mặc áo vải trúc bâu nhuộm nâu non, hay áo lụa, áo cát bá trắng, yếm đào hoặc trắng, váy sồi hay lụa, dây lưng sồi, khăn nhiễu hay xa-tanh, thường đi chân đất; mặc ngoài có áo dài the hoặc vải nhuộm nâu non, sang nữa thì có bộ áo “mớ ba”(3), đi guốc hoặc giày mỏ cong. Từ năm 1930 đến trước cách mạng, thanh niên học sinh, trí thức dần dần thay đổi cách ăn mặc. Con trai đội mũ cát, có người mặc đồ Âu. Lẻ tẻ, một số thiếu nữ mặc áo dài tân thời, quần cẩm cuốn, đi guốc cao gót… Đội đầu thì người Kỳ Anh xưa chỉ có cái mầu đan bằng tre, hoặc cái lịp là kiểu nón Thượng (Đức Thọ), sau mới dùng nón Ba Đồn (Quảng Bình), nón Kinh. Giàu sang thì đàn ông đội nón dửa Gò Găng, đi ô, đàn bà đội nón bằng, quai thao (nón Hạ).

Kỳ Anh vốn ruộng xấu, năng suất thấp (4) nên ngày trước thường xuyên thiếu gạo, dân phải ăn khoai sắn là chính. Có nơi phải ăn quả muồng (5) ; có nơi ngày giỗ chạp cũng dùng cả cây chuối ri thái nhỏ trộn với tép moi, bóp kỹ làm nham (nộm); miền biển cũng dùng cây rau mít bám trên đá (một loại rau câu) làm thức ăn, mắm tôm (ruốc) trộn với riềng cũng được chuộng lắm. Tuy nhiên, một bộ phận nhân dân vẫn thích và được dùng những món ăn cao cấp: cá gỏi, thịt thui, chim cu kỳ, tôm hùm, xôi vò… Đàn ông thích uống rượu nhưng không hút thuốc lào. Phường săn có lệ chia phần thịt cho bất cứ ai có mặt trong lúc đuổi bắt con mồi. Dân gian có tục đi ăn giỗ, ăn cưới, chỉ dùng đồ nước, còn thức khô thì chia làm phần gói về cho người già, trẻ con.

Lễ tang, lễ cưới cũng không có gì khác nhiều với các huyện trong tỉnh. Duy ở các xã phía nam huyện có lệ khi gả con gái phải có “ruộng hoa nữ”, thường gọi là “ruộng nhà trai” (khi nhà trai đến nạp tài thì trao giấy chuyển ruộng luôn). Vài nơi có tục “đón đường” khi đám rước dâu đi qua, họ nhà gái phải mời trầu và tặng một ít tiền, mới tiếp tục đi. Đưa dâu có người đón là điềm tốt đẹp.

Các làng cũng có một số tục lệ riêng: vùng Thần Đầu, làm lễ hạ điền vào ngày đông chí. Làng chọn một lão nông có “ông mụ song tuyền, con cháu đông đúc” xuống cấy, sau đó dân làng mới được cấy. Ai cấy trước bị làng phạt 5 quan tiền. Có làng cứ 27 Tết thì nhà nào cũng phải quết bánh dĩ (bánh dày) để cúng tất niên. Làng Đại Hào vào dịp mồng 5 tháng 5 hoặc mồng 10 tháng 10, mọi người đều dọn cỗ bánh chưng và mật mía đưa lên cúng thần Thành hoàng. Làng Ngưu Sơn có lễ làm “ruộng sãi”. Ai đến tuổi 50 thì được nhận ruộng cấy. Thu hoạch xong, đến rằm tháng tám phải biện mười cỗ chay (xôi chè) đưa đến cúng ở miếu Liễu Hạnh, ai làm “ruộng sãi” thì năm đó được miễn tạp dịch. Những lệ làng này từ sau cách mạng đều đã mất.

 

(1) Ở vùng biển xưa, chưa có điều kiện ghép, xây đá, người ta phải ghép ván để chống cát sạt lở, mà muốn ghép ván thì phải đào giếng hình vuông. Người Việt hay người Chàm cũng phải làm như vậy.

(2) Tây cống: Tiếng Quảng Đông chỉ Sài Gòn-“Xà goòng” là cách người Nghệ Tĩnh nói trại tiếng Sài Gòn. Đây là loại vải ngoại và loại guốc buôn từ Nam ra Bắc.

(3) Áo dài của phụ nữ xa xưa bằng the lụa mỏng, một bộ ba chiếc: ngoài cùng áo màu tím sẫm, trong là áo màu ngại (ngãi), rồi màu hồng.

(4) Vùng biển Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Khang, Kỳ Lợi, Kỳ Phương…ruộng nhiễm mặn nặng, phải cấy giống lúa “hai hom” năng suất thấp.

(5) Trái muồng có hai loại, có nhiều ở vùng núi Bằng Sư, Chóp Cờ (Kỳ Xuân). Đến mùa trái, người ta hái về phơi khô, giã, rây thành bột, đến mùa mưa gió, nấu khoai khô, có nếp càng quý, giã trộn với bột hạt muồng. Loại muồng trên, hạt như hạt đậu ván, hái về phải ngâm nước năm, sáu ngày, luộc lên, giã nhỏ, trộn với vừng, lạc…Loại thức ăn này dùng lúc đói kém, thay cơm.

PHONG TỤC THỜ CÚNG VÀ LỄ HỘI DÂN GIAN Ở KỲ NINH

        Mỗi làng quê đều có lịch sử hình thành, đặc điểm địa lí, thổ nhưỡng khác nhau nên có những phong tục thờ cúng và lễ hội dân gian không giống nhau. Kỳ Ninh (Kỳ Anh) là một trong những địa phương có phong tục thờ cúng và lễ hội dân gian mang nét đẹp văn hóa riêng với đậm màu sắc của cư dân vùng biển.

Kỳ Ninh là xã ven biển, cách trung tâm huyện Kỳ Anh 8 km về phía đông có diện tích 21,21km2. Theo Dư địa chí huyện Kỳ Anh, xã Kỳ Ninh trước năm 1945 thuộc tổng Đậu Chữ, sau 3 lần tách nhập, đến nay, xã có 13 thôn. Không chỉ được biết đến là mảnh đất anh hùng đã đóng góp nhiều chiến công trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nổi tiếng với Đội du kích Hải Khẩu có thành tích xuất sắc trong việc đánh giặc bảo vệ xóm làng, nhiều lần đánh mìn diệt địch mà còn là mảnh đất hội tụ nhiều di tích, lễ hội dân gian. Từ tục thờ cúng đến các lễ hội dân gian đều mang đậm những nét đặc sắc của cư dân vùng biển.

Từ phong tục thờ cúng...

Theo sử sách ghi chép, Kỳ Anh nói chung, Kỳ Ninh nói riêng, nhân thần được thờ nhiều hơn thiên thần, thần tự nhiên. Thành hoàng làng phần lớn là nhân thần - đó là những người có công với làng, là nhân vật lịch sử có tên tuổi, sự tích rõ ràng chứ không phải là những vị thần do con người tưởng tượng ra, như Chế Thắng phu nhân Nguyễn Bích Châu, Sát hải tướng quân Hoàng Tá Thốn… nên tế lễ và phong tục ở đây gần gũi với đời sống, sinh hoạt tâm linh của nhân dân. Đền Chế thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu thường gọi là đền Thánh Mẫu (còn gọi là đền Bà Hải). Theo sử sách ghi lại, đền thờ bà Nguyễn Cơ Bích Châu - cung phi của vua Trần Duệ Tông (1372 - 1377) được dựng khoảng cuối thế kỷ XV. Vốn hiểu biết, xinh đẹp, được kén vào hậu cung, Bích Châu được vua yêu quý. Triều đình suy kém, nàng khuyên vua thay đổi cách trị nước nhưng vua không nghe. Khi Vua Duệ Tông muốn cất quân đánh Chiêm Thành, nàng can ngăn nhưng không được nên xin vua theo hầu, đến cửa bể Kỳ Hoa, sóng gió nổi lên cản trở chiến thuyền, nàng đã nhảy xuống biển hiến mình để cứu quân (quả nhiên sóng lặng, gió im) song lần ấy vua bại trận. Một thế kỷ sau, năm Canh Dần (1470), vua Lê Thánh Tông qua cửa biển Kỳ Hoa đã tìm được thi hài nàng, vua sai làm lễ mai táng, lập đền thờ ở cửa biển và sắc phong thần có hai chữ “Chế thắng” nên đền được gọi là “Đền bà Chế thắng” (Chế thắng phu nhân từ). Dù không được chép ở chính sử mà là câu chuyện truyền thuyết nhưng việc một cung phi của vua Trần Duệ Tông chết ở cửa biển Kỳ Hoa là có thật. Để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng nhân dân, đền Chế thắng phu nhân từ ấy đến nay được sửa sang, trùng tu khang trang, to đẹp, trong đền có nhiều tự khí, hoành phi, đối liễn sơn son thiếp vàng do các trấn quan tỉnh, phủ, huyện, tổng, xã cúng. Hàng năm, vào ngày mở hội, Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia này được nhân dân trong vùng và khách thập phương về dự lễ đông đúc mang theo những tâm nguyện khác nhau.

Ngoài đền Chế thắng phu nhân, xã Hải Khẩu (Kẻ Khẩu) tổng Hoằng Lễ, huyện Kỳ Hoa, nay là xã Kỳ Ninh còn có đền thờ Sát hải tướng quân, miếu thờ Cá Ông, miếu Thánh mẫu Càn vương hay đại Càn... Sát Hải tướng quân là vị tướng đời Trần, tên là Hoàng Tá Tốn quê ở cửa Vích (Quỳnh Lưu) có công trong cuộc chống Nguyên Mông, trấn giữ mạn biển Nghệ An (Nghệ Tĩnh) được nhân dân nhiều nơi lập đền thờ, riêng ở Kỳ Anh, theo truyền thuyết, dân lập đền thờ biết ơn ông quan giữ cửa Khẩu báo việc bão tố bị giết oan. Ở Thuận Định (Kỳ Ninh) còn có miếu thờ thần cá - cá Voi mang đặc trưng riêng của cư dân vùng biển. Thường khi có bão tố, cá Voi thường tới ẩn bên mạn thuyền, giúp thuyền có chỗ dựa an toàn nên ngư dân thường coi cá voi là "cá thần"(nhân ngư). Ngư dân nào phát hiện đầu tiên xác cá chết dạt vào bờ là phải chịu đại tang, còn làng xã phải làm áo quan, tổ chức tống táng trọng thể và lập miếu thờ. Biết ơn các vị thần, hàng năm vào rằm tháng 6, làng đều tổ chức lễ tế Lục ngoạt. Trước khi đi vào tế, làng tổ chức rước Thần từ các đền, miếu trong xã về đình làng và tổ chức từng phần việc bài bản, nghiêm túc. Sau lễ tế, các trò chơi dân gian đặc sắc diễn ra thu hút nhân dân toàn xã tham dự.

...Đến lễ hội dân gian

Vào ngày giỗ Thánh Mẫu (12/2 âm lịch) hàng năm, tại đền đều có tế lễ, dâng bánh chưng ngày tết và mở hội. Mỗi dịp tết Nguyên đán (trước ngày trọng lễ 1 tháng), việc gói bánh chưng tết là phong tục chung của mỗi người Việt Nam từ xưa đến nay, tuy nhiên đối với người Hải Khẩu việc gói bánh chưng lại mang một ý nghĩa thiêng liêng khác. Để có nguyên liệu làm bánh, làng chọn một đám ruộng tốt nhất ở vùng đất cao ráo rồi chọn người cày cấy giỏi, có tín nhiệm trong làng, giao cho cấy nếp, trồng đậu, thu hoạch và cất trữ cẩn thận. Trước lễ hội phải chọn người thành thạo, không có tang để xay, giã, gói, nấu bánh. Bánh chưng thờ có ba chiếc to, mỗi chiếc 5 kg gạo nếp và 1,5 kg đỗ làm nhân. Sáng 30, bánh bắt đầu được nấu cho đến mồng 1 để kịp cho làng làm lễ dâng bánh đúng giờ Thìn. Hội lễ tổ chức vào ngày giỗ Đức Thánh Mẫu. Tối 11/2 (âm lịch), có lễ tiên thường, cáo tế. Cỗ tế là “cỗ thục” (cổ chín), có xôi, thịt lợn và gà luộc. Suốt đêm chức sắc, hào lão chia nhau túc trực hương đèn. Một số trai tráng cũng được cắt cử ở lại đền để phục dịch. Sáng ngày 12/2 (âm lịch) là chính tế. Tế phẩm phải là con vật sống. Trước đây, dân làng thả một cặp bê trên rú Voong (Cao Vọng có nơi chép là Cao Vương - bên kia sông Vịnh ở xã Bình Lễ, nay thuộc xã Kỳ Lợi), lâu ngày đàn bò sinh sôi đông đúc, nhân dân coi đây là của Đức Thánh Mẫu nên không được ai bắt, giết, làm càn và cũng không thể đến gần vì bò sống hoang dã. Trước ngày tế, làng làm lễ xin một chén “nước thánh” sang núi bắt bò. Sau khi đổ chén nước thánh lên thân một con bò được coi là béo tốt nhất, bò ngoan ngoãn lội theo thuyền qua sông về đền. Bò vẫn đứng nguyên trên tấm ván trong suốt tế lễ cho đến khi tế xong làng mới đưa bò ra làm thịt. Sau buổi tế, làng rước linh vị ra bờ sông dự hội chèo bơi hầu Thánh Mẫu. Khi Thánh mẫu được rước ra đến nơi thì người dân đã ken kín cả bờ sông. Mỗi cuộc bơi thường có 3 thuyền dài, mỗi thuyền có 20 thủy thủ màu áo khác nhau và 2 người điều khiển (một ngồi đằng lái đánh mỏ, một đứng trước mũi phất cờ). Cờ mở, trống giong 3 hồi thì thuyền xuất phát, theo nhịp mỏ và mái chèo rắn chắc, thuyền cứ thế mà lao vút. Khi lễ hội kết thúc, làng lại rước linh vị Đức Thánh Mẫu trở về đền.

Bên cạnh tục dâng bánh chưng thờ Thánh Mẫu, sau lễ tế Lục ngoạt, làng Hải Khẩu (nay là Kỳ Ninh) tổ chức các cuộc vui cho toàn dân với các trò “đập cù” hầu Thần. “Đập cù” hay “phất cù” thường lựa chọn trái cù (cầu) gỗ tròn như quả bóng nhỏ và cây gậy đầu hơi cong. Để làm được trái cù tròn trĩnh, người làm phải rất tỉ mĩ, công phu. Người ta chọn các bãi đất bằng phẳng trước đình, đào hai hố nhỏ vừa đủ để trái cù lọt xuống. Dùng cây gậy điều khiển làm sao để trái cù lọt xuống hố của đối phương. Để có được trận cù hấp dẫn, các khâu chuẩn bị từ lựa chọn giám cù (trọng tài), luật lệ thi đến chia phe đấu đều được tiến hành chu đáo. Vào hội, các làng lựa chọn trai tráng khỏe mạnh chia thành phe, cử trưởng phe, số quân không hạn định nhưng phải ngang nhau. Giám cù được chọn là người công tâm, thạo chơi để chỉ huy đấu. Ba hồi trống đại nổi lên cũng là lúc hai phe ra sân bắt đầu trận đấu trước sự chứng kiến, cổ vũ của khán giả. Khi một phe gạt được trái cù xuống hố của phe kia sẽ là phe chiến thắng và giám cù đánh trống hồi kết. Hai phe cùng dân làng đứng nghiêm chỉnh làm lễ tạ Thần và rước Thần về miếu kết thúc cuộc chơi.

Ngoài lễ hội đền, lễ kỳ phúc lục ngoạt, làng còn có lễ cầu ngư, lễ thay khoán, tế thần cá Voi… Cùng với các nghi thức tế lễ, làng còn tổ chức phần hội phong phú, công phu như tục dâng bánh thờ tết, các trò chơi, các cuộc thi như bơi chèo, cướp cù, đập cù… đã tập hợp được đông đảo nam thanh nữ tú, già trẻ trong làng tham gia, cũng là món quà để “hầu thần”, “hầu thánh”. Dâng vật phẩm linh thiêng, gắn phần tế và phần hội, “rước thần đi”, “đón thần về” trước và sau nghi thức tế lễ chính là nét văn hóa đặc sắc của nhân dân vùng biển.

Trong thời kỳ hội nhập, một số trò chơi đã mai một và không được giữ lại nhiều do nếp sống, nếp sinh hoạt thay đổi song một số trò chơi vẫn được duy trì, phục dựng vào dịp tết đến xuân về. Đặc biệt, hàng năm vào ngày mở hội đền Chế thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, nhân dân trong, ngoài vùng từ mọi miền đất nước đều tề tựu dự lễ rất đông, vừa vãn cảnh đền chùa vừa cầu an, cầu tài, cầu lộc, để mong một năm mới với nhiều thắng lợi mới.

ĐỘC ĐÁO ĐỜI SỐNG TÂM LINH CỦA CƯ DÂN VÙNG BIỂN KỲ NINH 

Là một xã vùng biển có nhiều di tích văn hóa, mỗi độ xuân về, người dân Kỳ Ninh (TX Kỳ Anh - Hà Tĩnh) lại nô nức tổ chức các lễ hội với những nghi thức tâm linh độc đáo. Qua đó, phản ánh rõ nét đời sống tinh thần phong phú của cư dân vùng biển.

Hội đua thuyền rồng mừng Thánh Mẫu của bà con ngư dân Kỳ Ninh.

Lễ hội đền Chế thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu (còn gọi là đền Bà Hải, đền Thánh Mẫu) là sự kiện được bà con trong vùng chờ đợi nhất mỗi độ xuân về. Những ngày này, bà con trong làng đang cùng với chính quyền địa phương tất bật, hối hả hoàn tất công tác chuẩn bị cho ngày khai hội.

Ông Nguyễn Tiến Dũng - Bí thư Đảng ủy xã Kỳ Ninh cho biết: Cứ đến lễ giỗ của Chế thắng phu nhân, bà con trong xã đều tổ chức gói bánh chưng. Năm nay là giỗ thứ 640 năm nên bà con sẽ gói 640 chiếc bánh chưng nhỏ để dâng lễ.

Theo các cụ cao niên trong xã thì vào tối 11/2 (âm lịch), tại đền thờ Thánh Mẫu sẽ có lễ tiên thường, cáo tế. Trong đó, cỗ tế là cỗ thục (cổ chín), có xôi, thịt lợn và gà luộc. Suốt đêm hôm đó, các chức sắc, hào lão sẽ chia nhau túc trực hương đèn. Một số trai tráng cũng được cắt cử ở lại đền. Sau buổi tế, làng rước linh vị ra bờ sông dự hội chèo bơi hầu Thánh Mẫu. Khi Thánh mẫu được rước ra đến nơi thì người dân đã ken kín cả bờ sông. Cờ mở, trống giong 3 hồi thì thuyền xuất phát, theo nhịp mõ và mái chèo rắn chắc, thuyền cứ thế mà lao vút. Khi lễ hội kết thúc, làng lại rước linh vị Thánh Mẫu trở về đền.

Bên cạnh tục dâng bánh chưng thờ Thánh Mẫu và lễ tế Lục ngoạt, xã Kỳ Ninh tổ chức cuộc vui cho toàn dân với các trò “vật cù” (đấu vật) hầu thần. Vào hội, các làng lựa chọn trai tráng khỏe mạnh chia thành phe, cử trưởng phe, số quân không hạn định nhưng phải ngang nhau. Ba hồi trống đại nổi lên cũng là lúc 2 phe ra sân bắt đầu trận đấu trước sự hò reo, cổ vũ của khán giả.

“Là năm chẵn nên lễ giỗ 640 năm của Thánh Mẫu năm nay sẽ được tổ chức ở quy mô cấp thị. Cùng với phần lễ và màn sử thi “Nữ trung hào kiệt - Ngọc Bích triều Trần”, thị xã còn tổ chức phần hội với các giải thể thao: bóng chuyền và kéo co, thả đèn hoa đăng trên sông. Ngoài ra, xã còn tổ chức giải đua thuyền rồng truyền thống, đập cù, chương trình giao lưu văn nghệ giữa các thôn xóm” - Bí thư Đảng ủy xã Kỳ Ninh Nguyễn Tiến Dũng cho biết thêm.

Ngoài lễ hội đền Chế thắng phu nhân, xã Kỳ Ninh còn có các nghi thức cúng tế ở lễ cầu ngư, lễ thay khoán, lễ tế thần cá Voi… ở các di tích như: đền thờ Sát hải tướng quân, miếu thờ Cá Ông, miếu Thánh Mẫu Càn vương, miếu thờ thần cá Voi... Tất cả đều mang đặc trưng riêng của cư dân vùng biển.

Điều đáng mừng là dù trong thời kỳ hội nhập, ở nhiều địa phương, các trò chơi dân gian đã bị mai một do nếp sống, nếp sinh hoạt thay đổi, song ở Kỳ Ninh, các nghi thức và một số trò chơi truyền thống vẫn được chính quyền địa phương cũng như bà con nhân dân duy trì và phục dựng, nhờ đó, các giá trị văn hóa truyền thống ở xã vùng biển này đang được bảo tồn, phát huy.

 

 

 

Bản đồ thị xã Kỳ Anh
 Liên kết website
Thống kê: 236.880
Online: 22