Số lượt online:

Tổng số lượt truy cập: 8160433

Tin tức xây dựng Đảng Tin tức xây dựng Đảng

Những nội dung mới trong Quy định 102-QĐ/TW về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm

 

          Ngày 30-3-2013, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Quy định 181-QĐ/TW về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. Đây là cơ sở để các tổ chức Đảng làm căn cứ xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm kịp thời, khách quan, nghiêm minh, tác động tích cực đến việc phấn đấu, rèn luyện, tăng cường ý thức chấp hành kỷ luật của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước của cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, sau hơn 4 năm áp dụng vào thực tiễn cuộc sống, nhiều nội dung trong Quy định 181-QĐ/TW không còn phù hợp. Vì vậy, ngày 15-11-2017, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Quy định số 102-QĐ/TW về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm. So với Quy định số 181-QĐ/TW, trong Quy định số 102-QĐ/TW (sau đây xin gọi là Quy định 102) có nhiều điểm mới được sửa đổi, bổ sung. Cụ thể là:

 

          1. Khi xem xét xử lý kỷ luật đối với đảng viên vi phạm còn căn cứ vào hậu quả từ hành vi sai phạm của đảng viên gây ra. Cụ thể, tại Khoản 3, Điều 2 có quy định: Khi xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, thái độ tiếp thu phê bình và sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra, mục tiêu, yêu cầu của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Đồng thời, cũng tại khoản 3 này đã bổ sung việc xem xét trong xử lý kỷ luật, phải kết hợp xem xét… ý thức tự phê bình và phê bình kém, không tự giác nhận lỗi, không bồi hoàn vật chất đầy đủ, kịp thời.

          2. Trong Quy định 102-QĐ/TW đã mở rộng phạm vi trách nhiệm trong trường hợp xử lý kỷ luật Đảng oan sai. Tại Khoản 9, Điều 2 nêu rõ: Tổ chức đảng có thẩm quyền khi thi hành kỷ luật oan, sai đối với đảng viên phải chủ động thay đi hoặc hủy bỏ quyết định đó; nếu tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật đối với đảng viên mà tổ chức đảng đó có vi phạm trong việc xem xét, xử lý kỷ luật đến mức phải kỷ luật thì cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy cấp trên xem xét, quyết định.

          3. Không luân chuyển Đảng viên đang bị xem xét thi hành kỷ luật. Tại  Khoản 11, Điều 2 có quy định: Không được luân chuyn, bổ nhiệm, phong, thăng quân hàm; phong, tặng, công nhận các danh hiệu của Đảng và Nhà nước đối với đảng viên đang được tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, thi hành kỷ luật.

          4. Quy định về thời hiệu xử lý kỷ luật, tại Điều 3 Quy định 102/QĐ-TW nêu rõ: Thời hiệu xử lý kỷ luật về Đảng là thời hạn được quy định trong quy định này mà khi hết thời hạn đó thì đảng viên có hành vi vi phạm không bị xử lý kỷ luật. Theo đó, thời hiệu xử lý kỷ luật Đảng là 5 năm đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức Khiển trách; 10 năm đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức Cảnh cáo hoặc Cách chức. Thời hiệu xử lý kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm. Nếu trong thời hạn xử lý kỷ luật nêu trên, Đảng viên có hành vi vi phạm mới thì thời hiệu xử lý kỷ luật đối với vi phạm cũ được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi phạm mới.

          Không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật Đảng đối với những hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ, vi phạm về chính trị nội bộ, về an ninh, quốc phòng, đối ngoại có xâm hại đến lợi ích quốc gia và việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.

          5. Trong Quy định 102 đã bãi bỏ trường hợp chủ động chấm dứt hành vi vi phạm là tình tiết giảm nhẹ khi xử lý kỷ luật. Đồng thời, tại Điểm c, Khoản 1, Điều 4 Quy định 102 đã bổ sung nội dung: Chủ động khắc phục hậu quả vi phạm và tích cực tham gia ngăn chặn hành vi vi phạm; tự giác bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do mình gây ra.

          6. Trong Quy định 102 đã sửa đổi các quy định về tăng nặng trách nhiệm xử lý kỷ luật. Cụ thể, tại Khoản 2, Điều 4 Quy định 102 đã bổ sung các nội dung sau:  Quanh co, che giấu hoặc không tự giác nhận khuyết điểm, vi phạm (trước đây phải có đồng thời các hành vi quanh co, che giấu, không tự giác nhận khuyết điểm và vi phạm). Đồng thời, bổ sung tình tiết sửa chữa chứng cứ vào tình tiết tăng nặng khi xử lý kỷ luật: Vi phạm trong thực hiện chính sách an ninh, quốc phòng. Vi phạm khi là người tổ chức. Và bổ sung tình tiết hướng dẫn người khác tạo lập tài liệu, hồ sơ, chứng cứ giả là tình tiết tăng nặng khi xử lý kỷ luật.

          7. Trong Quy định 102 đã giải thích rõ thế nào là trường hợp biết rõ về quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà vẫn thực hiện được xem là cố ý vi phạm. Cụ thể, tại Khoản 2, Điều 6 có ghi: Cố ý vi phạm: Là việc đảng viên đã được thông báo, phổ biến, biết về quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm nhưng vẫn thực hiện.

          8. Trong Quy định 102 cũng sửa đổi quy định trong việc giải thích hậu quả do hành vi vi phạm của Đảng viên gây ra. Tại Khoản 5, Điều 6 bỏ cơ sở ước tính giá trị để xác định các loại vi phạm, đồng thời bổ sung vi phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và sửa đổi dấu hiệu xác định các loại hậu quả do hành vi vi phạm. Cụ thể: Vi phạm gây hậu quả ít nghiêm trọng" là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại không lớn, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nơi Đảng viên sinh hoạt, công tác. Vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng" là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại lớn, gây dư luận xấu, rất bức xúc trong cán bộ, Đảng viên và nhân dân, làm mất uy tín của bản thân và tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị nơi Đảng viên sinh hoạt, công tác. Vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng" là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại rất lớn, gây dư luận xấu, rất bức xúc trong cán bộ, Đảng viên và nhân dân, làm mất uy tín của bản thân và tổ chức Đảng, cơ quan, đơn vị nơi Đảng viên sinh hoạt, công tác. Vi phạm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" là vi phạm có tính chất, mức độ, tác hại đặc biệt lớn, phạm vi ảnh hưởng rộng, gây phẫn nộ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm mất tư cách của đảng viên và vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng hoặc gây thiệt hại lớn về tài sản, sức khỏe, tính mạng của người khác.

          9. Tại Điều 7 trong Quy định 102 đã bổ sung hành vi vi phạm về quan điểm chính trị và lịch sử chính trị. Theo đó, đối với hành vi gây hậu quả ít nghiêm trọng bị xử lý bằng hình thức khiển trách: Thiếu trách nhiệm trong đấu tranh chống biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Không trung thực trong khai lý lịch, lịch sử bản thân và bổ sung lý lịch Đảng viên.

          Đối với trường hợp vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc vi phạm một trong các hành vi sau thì bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khai trừ: Cố ý nói, viết có nội dung xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc sự thật, phủ nhận vai trò lãnh đạo và thành quả cách mạng của Đảng và dân tộc (thay vì chỉ là nhân dân). Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập trung dân chủ, nền dân chủ XHCN, nhà nước pháp quyền XHCN, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", "xã hội dân sự", "đa nguyên, đa đảng" Cố ý đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; bôi nhọ lãnh tụ, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, truyền thống của dân tộc, của Đảng và Nhà nước. Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập, vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước. Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng. Tác động, lôi kéo, định hướng dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, đòi "phi chính trị hóa" quân đội và công an, xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với báo chí, văn học nghệ thuật. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng và các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

 

(Còn nữa)

 

                       Ủy ban Kiểm tra Thị ủy Kỳ Anh (tổng hợp)

 

 

 

Bản đồ hành chính Bản đồ hành chính

CỔNG GIAO TIẾP ĐIỆN TỬ THỊ XÃ KỲ ANH - TỈNH HÀ TĨNH

Cơ quan chủ quản: Ủy ban nhân dân thị xã Kỳ Anh
Địa chỉ: Tổ dân phố Hưng Hòa, phường Sông Trí, thị xã Kỳ Anh
Điện thoại: 02393 865 366 - Fax: 02393 865 366 - Email: ubtxkyanh@hatinh.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: Phan Duy Vĩnh - Phó Chủ tịch UBND thị xã Kỳ Anh
@2015 - Ghi rõ nguồn "www.txkyanh.hatinh.gov.vn" khi phát hành lại thông tin từ Website này