Lê Quảng Chí, Lê Quảng Ý là hai anh em ruột quê ở làng Thần Đầu, phủ Hà Hoa; nay là phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh. Cách đây khoảng 500 năm về trước, hai anh em họ Lê đã làm sáng danh cho quê hương xứ sở bằng trí thông minh và đức tính cần cù.

Tương truyền lúc nhỏ, vì nhà nghèo nên hai anh em Lê Quảng Chí, Lê Quảng Ý phải đi ở cho nhà giàu ở xứ xa. Nhờ chăm chỉ và sáng dạ, hai anh em được nhà chủ thương mến cho đi học. Lớn lên, hai người vẫn vừa làm thuê, làm mướn, vừa cố gắng đèn sách.Với tấm lòng hiếu học và trí thông minh trời phú nên họ học một biết mười, càng học càng giỏi.(Tài liệu điền dã của nhóm địa phương học Hà Tĩnh).

Lê Quảng Chí (1451 - 1533), năm Mậu Tuất 1478, đỗ Đình nguyên, nhất giáp tiến sĩ đệ nhị danh (Bảng nhãn) khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 9, đời Lê Thánh Tông. Sách “Địa dư tỉnh Hà Tĩnh” chép “Theo văn tài thì ông đáng đỗ Trạng nguyên, nhưng vì diện mạo xấu, nên vua Thánh Tông chỉ cho đỗ Bảng nhãn. Tuy nhiên, nhà vua rất tôn quý ông, luôn gọi bằng “tiên sinh” chứ không gọi tên, và thường triệu ông vào hỏi nhiều điều.Ông đều dẫn chuyện xưa nay, giảng minh nghĩa lý”.Ông làm quan đến Tả Thị lang bộ Lễ, kiêm Đông các đại học sĩ. Năm 60 tuổi, ông về quê và mở trường dạy học lấy hiệu Lãm sơn tiên sinh (có sách chép Hoàng sơn tiên sinh). Chủ ý của ông là truyền bá đạo học đến một vùng xa xôi, hẻo lánh và đói nghèo, mà ông may mắn là người mở đường.Ông mất lúc 82 tuổi, khi ông mất, vua kính nể đã không kìm nổi nước mắt xúc động, tự tay đề: “Lam Sơn Lê tiên sinh linh ứng”. Thi hài an táng dưới chân núi Hoành Sơn.

Lê Quảng Ý (1453 - 1526), đỗ đồng Tiến sĩ khoa Kỷ Vị năm Cảnh Thống thứ 2 đời Lê Hiến Tông (1499), làm quan đến Hàn lâm viện thị thếkiêm Đệ lĩnh tú thành quân vụ, tước Bảng Quận công. Ông là người văn võ kiêm toàn, nhiều lần vâng lệnh triều đình cầm quân cùng với vua Lê Thánh Tông đi đánh giặc ngoại xâm, đưa nền thái bình về cho đất nước.Ông là người cương nghị, tinh thông cả văn lẫn võ, được triều Lê kiêng nể, trọng dụng.

Vào những ngày hội Tao đàn, hai anh em ông thường xuất hiện như ngôi sao sáng trong làng thơ văn. Sự nghiệp văn chương Lê Quảng Chí – Lê Quảng Ý đã để lại cho nền văn học đương thời nhiều tác phẩm văn học có giá trị, đặc biệt là 5 bài thơ nổi tiếng ở cung thành được chép trong “Toàn Việt thị lục”. Tài thi họa của hai ông đã được các danh sĩ đương thời mến mộ, ý thơ đẹp, trong sáng, lời lẽ trau chuốt, giàu tính nhân văn.

Khi hai ông mất, dân làng lập đền thờ gọi là đền thờ hai ông thánh trạng; một thờ anh, một thờ em. Tương truyền trong “Miếu Trạng nguyên”,có hai câu đối:

Phiên âm:

“Nhất môn khoa giáp nan huynh đệ,

Song miếu anh linh tự cổkim”.

Dịch nghĩa:Thái Kim Đỉnh dịch:

‘Khoa giáp một nhà ai bác, chú?

Anh linh hai miếu tự xưa nay.

          Đời Tự Đức, sứ Tàu là Lao Sùng Quang qua đây có đề hai câu:

“Thùy gia hảo huynh đệ - Song miếu uất tinh linh”.

Đặng Chu Kình dịch:

“Anh em danh tiếng một nhà,

Tinh linh hai miếu sáng lòa nghìn thu”

Để tỏ lòng biết ơn và ghi tạc sự đóng góp của hai vị tiền bối có công lớn với quê hương đất nước, nhân dân ở vùng cực nam Hà Tĩnh đã truyền tụng cho nhau rằng, hai hòn núi Đụn đứng song song ở làng Thần Đầu (nay là phường Kỳ Phương), một hòn cao, một hòn thấp chính là hòn anh, hòn em, hai hòn này giống ngòi bút đang viết. Vì lẽ đó dân gian ở vùng này đã gọi hai hòn núi ấy là: “Nguy nga song bút”. Đằng sau hai hòn núi đó là hòn Cụp Chiêng, Cụp Cờ đứng thẳng hàng như đón tiếp hai ông.

Năm 1996, Bộ Văn hoá đã cấp bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa đối với Đền thờ và phần mộ Lê Quảng Chí- Lê Quảng Ý, dân làng Thắng Lợi đã tổ chức đón rước bằng di tích lịch sử văn hoá về làng. Nhân dân đóng góp công sức tiền của  để tôn tạo lại hai ngôi đền khá khang trang, đẹp mắt. Lấy hai ngôi đền làm nơi trung tâm văn hoá, giáo dục truyền thống hiếu học cho con em Thắng Lợi nói riêng và phường Kỳ Phương nói chung. Đồng thời, lấy ngày 02/06 (Âm lịch) làm ngày giỗ của Ông Lê Quảng Ý và ngày 12/12 (Âm lịch) làm ngày giỗ của Ông Lê Quảng Chí.Hằng năm trước các kỳ thi học sinh giỏi, tốt nghiệp, tuyển sinh hay Đại học, Cao Đẳng tất cả các học sinh và phụ huynh học sinh đều hướng về Đền để thắp hương cầu mong đỗ đạt cao.Đây quả là niềm tự hào của mảnh đất nghèo đã sinh ra hai tiến sĩ có công lớn với quê hương đất nước, là tấm gương cho con cháu muôn đời học tập.

Minh Hằng sưu tầm, tổng hợp


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



Tin liên quan

     Bình luận


    Mã xác thực không đúng.
      Bản đồ thị xã Kỳ Anh
       Liên kết website
      Thống kê: 194.109
      Online: 14