I. Bốn thay đổi trong đánh giá xếp loại đảng viên năm 2019

(Theo Hướng dẫn số 21-HD/BTCTW, ngày 18/10/2019 của Ban Tổ chức trung ương)

“Nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng Đảng viên hằng năm, mới đây, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Hướng dẫn số 21.

1. Thêm đối tượng Đảng viên không phải đánh giá, xếp loại

Trước đây, tại Hướng dẫn số 16, Đảng viên trong toàn Đảng phải tham gia đánh giá, xếp loại chất lượng Đảng viên trừ trường hợp được miễn công tác và sinh hoạt Đảng.

Tuy nhiên, hiện nay, ngoài 02 đối tượng trên, Hướng dẫn 21 đã bổ sung thêm đối tượng Đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt Đảng cũng không phải thực hiện đánh giá, xếp loại chất lượng.

Đáng chú ý: Đối với cấp ủy viên bị đình chỉ sinh hoạt cấp ủy vẫn phải đánh giá, xếp loại chất lượng.

2. Bỏ phụ lục 27 biểu hiện suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức

Việc đánh giá, xếp loại Đảng viên gồm các tiêu chí về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị... Trong đó, có nội dung phải đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với học tập và làm theo tấm gương Hồ Chí Minh.
Trước đây, 27 biểu hiện được liệt kê cụ thể thành 82 nội dung nêu tại Phụ lục kèm theo Hướng dẫn 16 nhưng chỉ có 02 cấp độ là có biểu hiện và không có biểu hiện. Bởi vậy, việc quy định này sẽ rất khó khăn cho Đảng viên liên hệ, nhận định và đánh giá cụ thể cũng như khắc phục, sửa chữa.

Từ thực tiễn trên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bỏ Phụ lục kèm theo. Thay vào đó, cấp có thẩm quyền hướng dẫn nhận diện và đấu tranh với các biểu hiện của từng đối tượng khác nhau.

3. Cụ thể hóa khung tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại Đảng viên

Một trong những điểu nổi bật của Hướng dẫn 21 là việc sửa đổi khung tiêu chuẩn các mức chất lượng theo hướng cụ thể hóa các tiêu chí với 04 cấp độ:

Tiêu chuẩn đánh giá xếp loại Đảng viên Tổ chức Đảng Đảng viên.

* Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ - Là Đảng bộ (Chi bộ) có nhiều thành tích nổi bật, có đổi mới sáng tạo, điển hình cho các tổ chức Đảng khác học tập, noi theo;

- Được đánh giá “Xuất sắc” với các tiêu chí về kết quả thực hiện chương trình công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị; Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh;

- Các tiêu chí còn lại được đánh giá “Tốt” trở lên;

- Với Đảng bộ: Có 100% tổ chức Đảng trực thuộc xếp loại “Hoàn thành nhiệm vụ” trở lên trong đó có từ 80% được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên”;

- Với Chi bộ: Có 100% Đảng viên được xếp loại “Hoàn thành nhiệm vụ” trở lên, trong đó có từ 80% được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” trở lên;

- Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” trở lên.

- Là Đảng viên thực sự tiêu biểu về năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống, luôn đi đầu về đổi mới sáng tạo, có sản phẩm cụ thể, có nhiều thành tích nổi bật trong công tác được các Đảng viên khác học tập, noi theo;

- Được đánh giá “Xuất sắc” với các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao; Các tiêu chí còn lại được đánh giá “Tốt” trở lên;

- Đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức phải được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”.

* Hoàn thành tốt nhiệm vụ - Được đánh giá “Tốt” với các tiêu chí về kết quả thực hiện chương trình công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị;

Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh;

- Các tiêu chí còn lại được đánh giá “Trung bình” trở lên;

- Với Đảng bộ: Có 100% tổ chức Đảng trực thuộc xếp loại “Hoàn thành nhiệm vụ” trở lên trong đó có từ 50% được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên”;

- Với Chi bộ: Có 100% Đảng viên được xếp loại “Hoàn thành nhiệm vụ” trở lên, trong đó có từ 50% được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” trở lên;

- Chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” trở lên.

- Được đánh giá “Tốt” với các tiêu chí về kết quả thực hiện chương trình công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị; Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh;

- Các tiêu chí còn lại được đánh giá “Trung bình” trở lên;

- Đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức phải được xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” trở lên.

* Hoàn thành nhiệm vụ - Được đánh giá “Trung bình” trở lên tất cả các tiêu chí;

- Tổ chức Đảng không bị xử lý kỷ luật (trừ trường hợp tự phát hiện và khắc phục xong hậu quả).

- Được đánh giá “Trung bình” trở lên các tiêu chí cơ bản;

- Đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức phải được xếp loại “Hoàn thành nhiệm vụ” trở lên.

* Không hoàn thành nhiệm vụ - Là Đảng bộ (Chi bộ) không đạt mức “Hoàn thành nhiệm vụ”;

- Có 01 trong số các trường hợp:

+ Chỉ hoàn thành dưới 50% số chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh được giao (trừ trường hợp bất khả kháng);

+ Các chương trình, kế hoạch về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị của Đảng bộ ở mức kém;

+ Có từ 02 tổ chức trong số Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ”;

+ Bị xử lý kỷ luật;

+ Có trên 20% số tổ chức Đảng trực thuộc xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ”;

+ Chi bộ cơ sở có trên 20% số Đảng viên xếp loại “Không hoàn thành nhiệm vụ”.

- Là Đảng viên không đạt mức “Hoàn thành nhiệm vụ”;

- Có 01 trong số các trường hợp:

+ Bị kết luận đánh giá có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”;

+ Chỉ hoàn thành dưới 50% chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao trong năm;

+ Đảng viên là cán bộ, công chức, viên chức xếp loại ở mức “Không hoàn thành nhiệm vụ”;

+ Đảng viên bị thi hành kỷ luật trong năm (một vi phạm bị xử lý kỷ luật chỉ tính một lần khi xếp loại).

4. Hướng dẫn xếp loại Đảng viên chuyển công tác

Đối với Đảng viên chuyển công tác mà đã có thời gian sinh hoạt tại Chi bộ cũ thì:

- Chi bộ nơi tiếp nhận có trách nhiệm đánh giá, xếp loại chất lượng;

- Nếu đã công tác ở đơn vị cũ từ 06 tháng trở lên thì phải lấy ý kiến của Chi bộ cũ;

Ngoài ra, Hướng dẫn cũng bổ sung thêm một số lưu ý mới trong việc đánh giá, xếp loại Đảng viên:

- Đảng viên sinh hoạt tạm thời được đánh giá, xếp loại ở Chi bộ nơi sinh hoạt chính thức sau khi lấy nhận xét ở nơi đang sinh hoạt tạm thời làm căn cứ;

- Đảng viên vi phạm kỷ luật ở tổ chức Đảng nơi công tác trước đó nhưng bị xử lý và thi hành kỷ luật ở nơi mới chuyển đến thì tính vào kết quả đánh giá, xếp loại của tổ chức Đảng nơi xảy ra vi phạm;

- Nếu có dưới 05 tổ chức Đảng, 05 tập thể lãnh đạo, 05 Đảng viên, 05 cán bộ lãnh đạo xếp loại “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” thì chọn 01 tổ chức Đảng, 01 tập thể lãnh đạo, 01 Đảng viên, 01 cán bộ lãnh đạo xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” nếu đủ điều kiện…

Trên đây là toàn bộ 04 điểm mới đáng chú ý về đánh giá, xếp loại chất lượng Đảng viên nêu tại Hướng dẫn 21 nhằm khắc phục những khó khăn, hạn chế với những quy định chặt chẽ, rõ ràng, sát với thực tiễn hơn so với các năm trước.”

II. Công bố Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam được bố cục thành ba phần. Phần thứ nhất: Bối cảnh chiến lược và chính sách quốc phòng” với nội dung tập trung khái quát tình hình thế giới, khu vực và Việt Nam; chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự Việt Nam; chính sách quốc phòng Việt Nam; hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng; đấu tranh quốc phòng.

Phần thứ hai: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân” gồm bốn nội dung chính, trong đó có nội dung về xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng; lãnh đạo, quản lý quốc phòng; xây dựng tiềm lực chính trị-tinh thần, tiềm lực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học-công nghệ, quân sự và xây dựng “thế trận lòng dân;” xây dựng các tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc…

Phần thứ 3 của Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 có chủ đề: “Quân đội nhân dân và dân quân tự vệ”, thông tin khái quát về truyền thống lịch sử quân sự Việt Nam; lịch sử hình thành, phát triển, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và phương hướng xây dựng của Quân đội nhân dân Việt Nam; phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam./.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 khẳng định quan điểm cơ bản của chính sách quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình, tự vệ, không tham gia liên minh quân sự, không liên kết nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; xác định rõ những nội dung cơ bản của tình hình quốc tế và đối ngoại quốc phòng nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; tăng cường lòng tin chiến lược, duy trì môi trường hòa bình, hợp tác cùng phát triển; tăng cường quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước, nhất là các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các nước bạn bè cũ.

Xác định rõ quan điểm của Việt Nam trong đấu tranh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, đó là: Việt Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của tất cả các nước theo quy định của luật pháp quốc tế, đồng thời yêu cầu các nước tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, hiến pháp, pháp luật của Việt Nam.

Việt Nam kiên quyết, kiên trì đấu tranh, giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật và thông lệ quốc tế; đồng thời sẽ sử dụng mọi biện pháp cần thiết để tự vệ khi chủ quyền, lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc bị xâm hại.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp quốc phòng và Quân đội nhân dân Việt Nam; cung cấp những nội dung cơ bản về xây dựng nền quốc phòng Việt Nam, cơ cấu của Bộ Quốc phòng; tổ chức, phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân, dân quân tự vệ, quá trình tăng cường tiềm lực quốc phòng của đất nước; minh bạch về chính sách cũng như khả năng quốc phòng Việt Nam.

Các nội dung này nhằm tăng cường hiểu biết, xây dựng lòng tin giữa Quân đội, nhân dân Việt Nam với quân đội, nhân dân các nước trên thế giới; tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hợp tác, hội nhập quốc tế về quốc phòng của Việt Nam với các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế; giải quyết các vấn đề an ninh đang nổi lên vì hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển của nhân loại.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 được in làm hai bản: Một bản tiếng Việt sử dụng cho các cơ quan, đơn vị trong và ngoài nước của Quân đội, Chính phủ, nhân dân Việt Nam. Bản thứ hai bằng tiếng Anh sử dụng cho bạn bè quốc tế và sẽ được cung cấp cho các đại sứ quán, tùy viên quân sự và các đối tác quốc tế của Việt Nam.

III. Giám sát chặt chẽ dịch tả lợn châu Phi và thực hiện đúng quy trình khi tái đàn

          Trong bối cảnh mầm bệnh dịch tả lợn châu Phi vẫn còn lưu hành và có thể tái dịch, các hộ chăn nuôi cần cân nhắc trước khi tái đàn. Việc tái đàn là có thể nếu các địa phương bảo đảm an toàn sinh học, nhưng phải giám sát chặt chẽ và hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện đúng quy trình đảm bảo an toàn sinh học.

          * Cân nhắc khi tái đàn

          Bệnh dịch tả lợn châu Phi xuất hiện tại Việt Nam từ đầu tháng 2/2019-15/11/2019, bệnh dịch tả lợn châu Phi đã xảy ra tại 8.498 xã thuộc 666 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số lợn tiêu hủy là 5,88 triệu con, tổng trọng lượng là 337.000 tấn (chiếm hơn 8,8% tổng trọng lượng lợn của cả nước). Đến nay, có 54% số xã có dịch đã qua 30 ngày, trong đó 25 tỉnh, thành phố có trên 50% số xã và 9 tỉnh có trên 85% số xã đã qua 30 ngày; tỉnh Hưng Yên về cơ bản đã hết dịch. Chính quyền nhiều địa phương đã chủ động chỉ đạo tái đàn có kết quả để cung cấp lợn thịt cho thị trường.

Tình hình dịch bệnh, thiệt hại: Đến thời điểm này, dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại 12/13 huyện, thành phố, thị xã (huyện Nghi Xuân chưa có dịch).  Đặc biệt, sau thời gian mưa lũ đã gây ngập úng nhiều nơi nên việc tiêu hủy lợn chết gặp nhiều khó khăn, công tác tiêu độc khử trùng cũng không thể thực hiện triệt để. Hiện dịch bệnh tại các huyện Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Vũ Quang, thành phố Hà Tĩnh đang diễn biến hết sức phức tạp, khó lường. Dịch bệnh đã xẩy ra tại 3.124 hộ chăn nuôi, thuộc 480 thôn, làm chết và tiêu hủy 18.551 con lợn, với tổng trọng lượng là 970,2 tấn. Dự báo thời gian tới, dịch bệnh sẽ tiếp tục phát sinh, lây lan tại các địa phương chưa có dịch, tái phát các ổ dịch cũ, nguy cơ xâm nhiễm vào các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn, gây thiệt hại cho người chăn nuôi là rất cao.

Về vấn đề giá lợn, trong thời gian qua giá trung bình trên cả nước vào khoảng 60.000-67.000 đồng/kg lợn hơi, cá biệt có nơi đã lên tới 72.000đồng/kg, nguyên nhân là do tình trạng khan hiếm nguồn cung tại một số địa phương, nhất là ở những khu vực tiêu thụ lợn thịt tại chỗ do người chăn nuôi không bán lợn ra thị trường.

Theo phân tích của Tổng cục Thống kê, giá thịt lợn thời điểm này đã tăng gần 19% so với cùng kỳ năm trước, ở miền Bắc, tháng 11/2019, giá lợn hơi ở mức 70-75.000 đồng/kg, cá biệt ở Lào Cai, Hưng Yên giá lên tới 78.000 đồng/kg, ở miền Trung dao động mức 70.000 đồng/kg và miền Nam từ 65.000-75.000 đồng/kg. Tổng cục Thống kê dự báo mức CPI tháng 11 tăng khoảng 0,8-1%, riêng giá thịt lợn tác động đến mức tăng CPI là 0,75%.

Dự kiến quý 4/2019, tổng nhu cầu khoảng hơn 600.000 tấn thịt lớn và với mức cung căn cứ trên tổng đàn tháng 10 và mức nhập khẩu như hiện nay thì tổng cung sẽ là hơn 400.000 tấn, thiếu hụt hơn 200.000 tấn.

Dự báo, nếu giá thịt lợn tăng thêm khoảng 10-15%, đạt đến mức giá 80.000 đồng/kg thì sẽ làm CPI chung tăng khoảng 0,5-0,7%, đưa mức CPI bình quân năm 2019 dự báo tăng dưới 3% so với năm 2018, vẫn trong vùng kiểm soát. Tuy nhiên, phải có hướng để kiểm soát xu thế giá tăng cao, hạn chế lạm phát kỳ vọng, tạo dư địa cho điều hành giá năm 2020.

Dự kiến quý 4/2019, tổng nhu cầu khoảng hơn 600.000 tấn thịt lớn và với mức cung căn cứ trên tổng đàn tháng 10 và mức nhập khẩu như hiện nay thì tổng cung sẽ là hơn 400.000 tấn, thiếu hụt hơn 200.000 tấn.

Dự báo, nếu giá thịt lợn tăng thêm khoảng 10-15%, đạt đến mức giá 80.000 đồng/kg thì sẽ làm CPI chung tăng khoảng 0,5-0,7%, đưa mức CPI bình quân năm 2019 dự báo tăng dưới 3% so với năm 2018, vẫn trong vùng kiểm soát. Tuy nhiên, phải có hướng để kiểm soát xu thế giá tăng cao, hạn chế lạm phát kỳ vọng, tạo dư địa cho điều hành giá năm 2020. Do đó nhiều hộ chăn nuôi muốn tái đàn, khôi phục sản xuất. Nhiều địa phương cũng đang cân nhắc, xem xét việc tái đàn gắn với chăn nuôi an toàn sinh học trong bối cảnh hiện nay để tránh việc thiếu và khủng hoảng nguồn thịt trong thời gian tới.

          Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến, việc tái đàn lợn là có thể nếu các địa phương bảo đảm an toàn sinh học, nhưng phải giám sát rất chặt chẽ và hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện đúng quy trình đảm bảo an toàn sinh học. Trong đó, việc vệ sinh, phun khử trùng tiêu độc là đặc biệt quan trọng để cắt đường lây truyền bởi vi rút này ở bên ngoài rất yếu nhưng khi xâm nhập vào cơ thể lợn thì sức tàn phá rất lớn.

          Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo, các hộ chăn nuôi không được chủ quan, nóng vội mà nên nuôi thăm dò với số lượng nhỏ trước, sau đó nếu thấy ổn thì mới tăng tiếp quy mô lớn hơn. Bởi vì, mặc dù các vùng dịch đã công bố hết dịch nhưng có thể mầm bệnh, nguồn vi rút vẫn còn lưu hành và có thể tái dịch nếu không áp dụng các biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt.

          Hiện, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có bộ quy chuẩn hướng dẫn chăn nuôi an toàn sinh học. Bộ cũng đã giao Cục Chăn nuôi phối hợp với Cục Thú y, Trung tâm Khuyến nông quốc gia đẩy mạnh việc phổ biến quy trình chăn nuôi an toàn sinh học tới các địa phương, từng hộ chăn nuôi.

          * Đảm bảo an toàn sinh học trong chăn nuôi lợn

          Theo số liệu của Cục Chăn nuôi, nếu như năm 2016, cả nước có 2.147 trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học, chiếm 18,3% với tổng đầu con trên 2,1 triệu con, chiếm 6,6% thì sang năm 2017 số trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học của cả nước tăng lên gần 2.500, chiếm 24,4%, với tổng đàn xấp xỉ 2,8 triệu con, chiếm 9,3%; năm 2018, số trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học tăng lên trên 2.500, chiếm 25,6%, với tổng đầu con trên 2,82 triệu con, chiếm 9,9%.

          Cục Chăn nuôi cho biết chăn nuôi lợn an toàn sinh học đóng vai trò rất quan trọng, mang tính bền vững đặc biệt trong bối cảnh bệnh dịch tả lợn châu Phi diễn biến rất phức tạp trong phạm vi cả nước. Thực tế cũng chỉ ra rằng, đối với những cơ sở trang trại chăn nuôi làm tốt an toàn sinh học đến nay cơ bản giữ được an toàn dịch bệnh đối với bệnh dịch tả lợn châu Phi.

          Vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã ban hành Công văn số 5329/BNN-CN gửi các địa phương về việc tăng cường một số biện pháp kỹ thuật tổng hợp về an toàn sinh học trong chăn nuôi lợn để phòng, chống bệnh dịch tả lợn Châu Phi.

          Theo đó, về chuồng trại, chuồng nuôi phải dễ thực hiện các biện pháp vệ sinh, sát trùng, tiêu độc, phòng bệnh; có lưới bao xung quanh và biện pháp khác ngăn chặn côn trùng và vật chủ trung gian khác truyền bệnh, như: chuột, chim, ruồi, muỗi… Không sử dụng chung dụng cụ chăn nuôi giữa các chuồng. Đường thoát nước thải từ chuồng nuôi đến khu xử lý chất thải đảm bảo kín. Tại lối ra vào chuồng nuôi phải bố trí hố khử trùng. Kiểm soát người ngoài ra, vào chuồng nuôi. Trước và sau khi vào, ra khu chăn nuôi phải thay bảo hộ lao động, sát trùng tay, nhúng ủng hoặc giầy, dép vào hố khử trùng.

          Về con giống, lợn nhập về nuôi phải có nguồn gốc rõ ràng, khoẻ mạnh. Đối với lợn nhập từ ngoài tỉnh phải có Giấy kiểm dịch, trước khi nhập đàn, nuôi cách ly ít nhất 2 tuần. Với thức ăn và nước uống, sử dụng thức ăn có nguồn gốc rõ ràng, không bị hỏng, mốc và còn hạn sử dụng, đảm bảo chất lượng và an toàn. Trường hợp sử dụng thức ăn tận dụng phải được xử lý nhiệt trước khi cho ăn. Nguồn nước cho chăn nuôi lợn phải đảm bảo an toàn. Nên bổ sung chế phẩm sinh học trong thức ăn để tăng khả năng tiêu hóa, sức đề kháng cho lợn.

          Quy trình chăn nuôi phải phù hợp với từng loại lợn theo các giai đoạn sinh trưởng, phát triển. Nên áp dụng phương thức nuôi khô, không sử dụng nước tắm cho lợn. Sử dụng các chế phẩm sinh học trong nước uống, độn chuồng và định kỳ phun sương trong chuồng nuôi theo hướng dẫn của nhà sản xuất để tăng cường phòng, chống dịch.

          Phải vệ sinh máng ăn, máng uống hàng ngày; tiêu độc khử, trùng thường xuyên các thiết bị, dụng cụ và phương tiện phục vụ trong chăn nuôi. Định kỳ phun thuốc sát trùng xung quanh khu chăn nuôi, chuồng nuôi ít nhất 2 lần/tuần; phun thuốc sát trùng trong chuồng nuôi ít nhất 1 lần/tuần khi không có dịch bệnh, và ít nhất 2 lần/tuần khi có dịch bệnh; phun thuốc sát trùng trên lợn ít nhất 2 lần/tuần khi có dịch bệnh. Sau mỗi đợt nuôi phải làm vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng, dụng cụ chăn nuôi và để trống chuồng ít nhất 7 ngày trước khi nuôi đàn mới.

          Chất thải được gom để xử lý phải để cuối chuồng, xa khu chuồng nuôi, xa nơi cấp nước. Chất thải phải được thu gom hàng ngày, chuyển đến nơi tập trung và xử lý bằng nhiệt, hoặc bằng hoá chất, hoặc xử lý bằng sinh học phù hợp.

          Với quản lý dịch bệnh, có quy trình phòng bệnh phù hợp từng loại lợn và thực hiện đúng quy trình. Trong trường hợp có dịch, phải khai báo chính quyền địa phương và thực hiện đầy đủ các quy định hiện hành về phòng, chống dịch. Cách ly lợn ốm để có biện pháp xử lý kịp thời, ngừng xuất lợn giống và kiểm soát chặt việc xuất sản phẩm, vật tư trong khu chăn nuôi lợn ra ngoài theo quy định. Khi xảy ra dịch, cần che bạt, bao vây kín ô chuồng, lợn bệnh phải tiêu hủy theo hướng dẫn của cơ quan thú y. Không rửa ngay ô chuồng có lợn bị bệnh mà tiến hành che bạt, bao vây kín, phun chất sát trùng liên tục 3-4 ngày, sau đó rửa lại bằng nước sạch, tránh làm bắn nước sang ô chuồng hoặc chuồng kế bên... ./.

IV. Bước chuyển mình của kinh tế Việt Nam sau hơn một thập kỷ gia nhập WTO 

          Ngày 07/11/2006, tại trụ sở Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thành phố Geneva, Thụy Sĩ, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức này, sau 11 năm chuẩn bị với 15 vòng đàm phán.

          * Bước tiến quan trọng trong chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế

        Gia nhập WTO là bước tiến quan trọng trong chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế theo chủ trương của Đảng, Nhà nước và Chính phủ.

          Năm 1995, Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO. Từ năm 1997-2001 là giai đoạn “minh bạch hóa thể chế chính trị và kinh tế”; các cơ quan nhà nước phải trả lời hơn 1.500 câu hỏi của nhiều nước thành viên WTO về hiến pháp, luật pháp và tình hình thực tế của đất nước. Gần 6 năm tiếp theo (2002-2007) là quá trình đàm phán song phương với những nước có yêu cầu và đa phương với WTO, đồng thời sửa đổi, hoàn thiện nhiều văn bản luật pháp để đáp ứng đòi hỏi của một quốc gia muốn gia nhập WTO. Sau khi là thành viên WTO, hệ thống luật pháp nước ta tiếp tục được hoàn thiện để thực hiện cam kết với WTO theo lộ trình đối với ngành và lĩnh vực kinh tế.

          Cả hai giai đoạn sửa đổi và hoàn thiện luật pháp trước và sau khi gia nhập WTO đã ban hành Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp 2014, việc Chính phủ đòi hỏi phải áp dụng tiêu chuẩn của các nước OECD về thuế và các nước ASEAN-4 về hải quan; Dự án Hậu WTO được tiến hành đồng loạt ở tất cả các bộ, ngành và địa phương; các cơ quan chuyên trách về WTO đã được thành lập để làm tư vấn cho doanh nghiệp. Nhiều tài liệu, trong đó có cẩm nang về WTO đã được phát hành.

* Kinh tế chuyển mình mạnh mẽ

          Nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Việc mở cửa nền kinh tế trở thành động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần không nhỏ để duy trì tốc độ tăng trưởng cao hàng năm của nền kinh tế Việt Nam.

          Hơn 10 năm qua có nhiều cuộc khủng hoảng quốc tế ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế cũng như hội nhập quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, với những cải cách từ bên trong, với những chính sách đa phương, đa dạng hóa về kinh tế, thương mại và đầu tư với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng, có ý nghĩa thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng kinh tế cũng như hội nhập quốc tế.

          Khi gia nhập WTO năm 2006, Việt Nam nằm trong nhóm nước thu nhập thấp; năm 2016 khi tham gia AEC và các FTA mới, Việt Nam đã gia nhập nhóm nước thu nhập trung bình (thấp), là một trong 32 nước có kim ngạch xuất khẩu trên 100 tỷ USD, trong đó có một số mặt hàng đứng hàng đầu thế giới, là nước thu hút FDI ổn định nhất trong ASEAN. Tính đến tháng 10/2019, Việt Nam đã thu hút 30.136 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 358,53 tỷ USD. Nhiều tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới đã chọn Việt Nam làm “điểm đến”, như: Intel, Microsoft, Samsung, LG, Nokia, Canon, Mitsubishi, Toyota, Honda...

          Mặc dù bị ảnh hưởng bởi những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khủng hoảng nợ công song nền kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân đạt gần 7%/năm; năm 2018 đạt 7,08% - cao nhất trong một thập kỷ qua. Cùng với đó, thu nhập bình quân đầu người cũng được cải thiện đáng kể. GDP bình quân đầu người tăng từ 730 USD năm 2006 lên 2.587 USD năm 2018, khoảng 7.650 USD theo sức mua tương đương. Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ.

          Hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam phát triển mạnh giúp gia tăng kim ngạch xuất, nhập khẩu, mở rộng thị trường đa dạng các loại hàng hóa tham gia xuất, nhập khẩu. Việt Nam đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu với tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đạt gần 480 tỷ USD, gấp gần 2 lần GDP. Từ chỗ thường xuyên nhập siêu, Việt Nam đã chuyển sang cân bằng xuất nhập khẩu, thậm chí là xuất siêu. Là thành viên của WTO, Việt Nam đã được hơn 70 đối tác công nhận là nền kinh tế thị trường, nhiều sản phẩm dần có chỗ đứng và khả năng cạnh tranh trên nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng như Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Mỹ...

* Tự tin vào “sân chơi” toàn cầu

          Việc gia nhập WTO chính là “mở cánh cửa lớn” để Việt Nam bước vào “sân chơi” toàn cầu.

          Gia nhập WTO, Việt Nam đã từng bước mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ theo các thỏa thuận đa phương và song phương. Việc đàm phán, ký kết và thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA), nhất là các FTA thế hệ mới, chủ trì các hội nghị đa phương lớn của Việt Nam trong thời gian qua vừa bảo đảm lợi ích quốc gia, vừa nâng cao đáng kể năng lực và vị thế quốc tế của Việt Nam.

          Đến nay, Việt Nam đã ký kết và đang đàm phám 17 hiệp định FTA song phương và đa phương (12 FTA đã có hiệu lực và đang thực thi). Với việc đàm phán, ký kết hàng loạt FTA, nhất là các FTA thế hệ mới, như: FTA Việt Nam-Liên minh châu Âu; Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư xuyên Đại Tây Dương; Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương; FTA ASEAN+1; FTA Australia-Hoa Kỳ.

          Môi trường pháp lý, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý trong nước được cải cách theo hướng ngày càng phù hợp với các cam kết tiêu chuẩn cao trong các FTA và ngày càng minh bạch hơn, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước ngày càng thông thoáng theo các chuẩn mực quốc tế của khu vực và thế giới... góp phần tăng trưởng kinh tế ổn định và chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nước theo hướng phát triển các ngành hàng để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các thị trường đã có FTA với Việt Nam.

          * Tiếp tục đưa con tàu kinh tế vươn ra biển lớn

          Sau 13 năm gia nhập WTO, có thể thấy Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành quả quan trọng. Tuy nhiên, mặc dù có tên trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, nhưng kinh tế Việt Nam vẫn chưa phát triển theo đúng kỳ vọng.

          Trong công nghiệp, ngành khai thác, gia công vẫn chiếm tỷ trọng lớn, việc sử dụng công nghệ tiên tiến, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao còn thấp. Nông nghiệp tuy đạt được nhiều thành tựu nhưng tỷ lệ hàng nông sản qua chế biến còn thấp; việc đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp còn chậm, chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp còn nhiều bất cập.

          Để tiếp tục phát triển bền vững, Việt Nam cần những cải cách đột phá, đổi mới bộ máy hành chính nhà nước; Tái cơ cấu các doanh nghiệp, các dịch vụ cơ sở hạ tầng theo hướng tập trung những dịch vụ có tiềm năng, lợi thế và phát triển logistics xanh. Đặc biệt, nâng mức đầu tư cho khoa học công nghệ để Việt Nam sớm có những đột phá về khoa học công nghệ, tạo ra những mặt hàng, những sản phẩm kỹ thuật cao mang lại giá trị cao trong xuất khẩu.

          Cùng với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử sau đổi mới, việc gia nhập WTO đã nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế, tạo điều kiện triển khai có hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa. Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp với những mối quan hệ đan xen về lợi ích, việc giải quyết hàng loạt thách thức đặt ra chính là chìa khóa để Việt Nam tạo đà, tiếp tục đưa con tàu kinh tế vươn ra biển lớn.

V. Cảnh tỉnh lao động “chui” ở nước ngoài

          Tin vào những lời rủ rê, hứa hẹn về một viễn cảnh như mơ ở xứ người, nhiều người nhẹ dạ cả tin, liều mình đưa tiền cho các đối tượng để trốn sang làm việc ở nước ngoài. Và hậu quả không chỉ chính bản thân người lao động phải gánh chịu mà còn ảnh hưởng đến xã hội.

          39 người vừa bỏ mạng ở Anh là ai và điều gì đã khiến họ liều mình vượt biên giới? Hoàn cảnh nào đã đưa đẩy họ đến với đường dây vận chuyển người bất hợp pháp? Dẫu chưa thể khẳng định liệu có ai trong số những nạn nhân là người Việt Nam, nhưng vụ việc khiến chúng ta không khỏi đau đớn, bàng hoàng. Vụ việc là một hồi chuông cảnh tỉnh khi thực tế có nhiều người Việt đã và đang bị những đường dây vận chuyển người bất hợp pháp lôi kéo dụ dỗ. Họ phải trả một số tiền lớn, để rồi phải chui lủi như những tội phạm trên cả chuyến đi.

           * Vì sao nhiều người chấp nhận đến với lao động “chui”?

         Trong nhiều năm qua, lợi dụng nhu cầu đi làm việc nước ngoài tăng cao, một số đối tượng đã dụ dỗ, lôi kéo, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo con đường bất hợp pháp. Trong khi đó, có nhiều người muốn đi lao động ở nước ngoài nhưng không đáp ứng được các yêu cầu, điều kiện của xuất khẩu lao động (XKLĐ) chính ngạch (phải có trình độ ngoại ngữ, tay nghề chuyên môn theo yêu cầu của nhà sử dụng, tuân thủ nghiêm ngặt về giờ giấc…).

          Một số người lại do thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về pháp luật; số khác lại có tâm lý nôn nóng muốn làm giàu nhanh chóng và không chính đáng nên muốn đi nước ngoài nhanh theo con đường phi pháp; không lường hết được mọi khó khăn, nguy hiểm, thậm chí đánh đổi bằng cả tính mạng… nên trở thành nạn nhân của các đối tượng môi giới. Có những gia đình cả hai vợ chồng, hoặc anh em ruột cùng mắc bẫy “cò” XKLĐ.

          Thực tế cho thấy, phần lớn người lao động đều ý thức được ngay từ đầu hình thức đi công khai hoặc bí mật để đạt mục đích trốn đi lao động ở nước ngoài, chỉ có số ít là người đi không nhận biết được do các đối tượng tự sắp xếp, móc nối với các cá nhân hay tổ chức cho ở lại lao động bất hợp pháp. Thế nhưng, dù nhận biết được những hệ lụy đó, nhiều người vẫn bất chấp tất cả, đánh cược tương lai, số phận và tiền bạc của mình cho những đối tượng không hề có thẩm quyền, chức trách trong lĩnh vực này.

* Thủ đoạn tinh vi

          Hiện nay, việc lao động “chui” đang là một thực trạng nhức nhối và con số đang không ngừng tăng lên.

          Theo cơ quan công an, các đối tượng thường sử dụng 3 hình thức để hoạt động tổ chức trốn và đưa người đi nước ngoài trái phép. Thứ nhất là tổ chức trốn bí mật bất hợp pháp; các đối tượng dẫn người qua đường tiểu ngạch (không giấy tờ - đường bộ) hoặc mua sắm thuyền vượt biển (đường biển), kể cả từ Việt Nam và qua nước thứ 2 để vượt biên sang nước thứ 3.

          Thứ hai là tổ chức trốn dưới hình thức công khai bất hợp pháp; chúng có thể sử dụng hộ chiếu giả, giả mạo hồ sơ để được cấp hộ chiếu mang tên người khác hoặc dùng hộ chiếu, thẻ thường trú của người đã được định cư ở nước sở tại để quay vòng. Thậm chí có đối tượng còn tổ chức người theo kiểu tham quan du lịch đến nước thứ 2 rồi từ đó tìm cách trốn sang nước thứ 3 bằng đường bộ qua tiểu ngạch, vượt biển hay trốn trong xe container hàng hóa.

          Và thứ ba là dưới dạng tham quan, du lịch, thăm thân; giả mạo hợp đồng lao động để được cấp visa lao động nhưng sau khi xuất cảnh tự tìm kiếm việc làm; hợp thức hóa thành người của công ty, doanh nghiệp để được ra nước ngoài hội chợ, hội thảo, khảo sát thị trường, ký hợp đồng hoặc có thể theo kiểu hợp thức hóa đi du học tự túc rồi trốn ra ngoài tìm kiếm việc làm…

          Tuy nhiên, dù theo bất kỳ hình thức nào, những việc làm này đều bị pháp luật ngăn cấm. Song các đối tượng vẫn bất chấp mọi thủ đoạn để nhằm qua mặt cơ quan chức năng, kiếm lợi nhuận từ việc làm phi pháp.

          * Hệ lụy khôn lường

          Với hy vọng đổi đời, tuy nhiên rất nhiều người trong số họ bị bóc lột sức lao động, bị ngược đãi, quỵt tiền lương; nhiều người bị cảnh sát bắt giữ, phạt tiền; hay trục xuất về nước mà không được sự bảo hộ của bất kỳ nhà nước hoặc cơ quan tổ chức nào, để lại những món nợ khổng lồ cho người thân, gia đình; thậm chí một số trường hợp còn bị chết do tai nạn, dịch bệnh, thậm chí bị sát hại.

         Vượt biên trái phép, lao động “chui” chính là người lao động đã tước đi quyền được bảo vệ của mình đồng nghĩa với đó sức khỏe, sự an toàn và tính mạng của lao động sẽ luôn có thể rơi vào tình trạng mất an toàn trong mọi trường hợp.

          Cục trưởng Quản lý lao động ngoài nước Tống Hải Nam cho biết, những lao động đi làm việc ở nước ngoài theo kênh không chính thức (XKLĐ “chui”) sẽ không được pháp luật nước sở tại bảo vệ, kể cả khi bị chủ sử dụng ngược đãi, không trả lương hoặc trả lương thấp hơn quy định, hay khi điều kiện ăn ở và làm việc không bảo đảm. Họ cũng không được hưởng trợ cấp thôi việc khi bị sa thải, không được bảo hiểm y tế khi bị bệnh tật hay ốm đau, không được bảo hiểm rủi ro khi gặp rủi ro, tai nạn.

          Ngoài ra, cảnh sát nước sở tại thường xuyên tổ chức các lực lượng để truy quét lao động nước ngoài cư trú bất hợp pháp. Chính phủ các nước thường có chính sách phạt tiền lao động trái phép, trường hợp không nộp phạt sẽ bị buộc phải cải tạo lao động để đủ tiền nộp phạt. Người lao động đã vi phạm quy định luật nhập cư của nước sở tại sẽ bị từ chối cấp visa và bị từ chối khi nhập cảnh lại nước đó.

          Không chỉ mang đến nhiều rủi ro, hệ lụy cho người lao động, tình trạng XKLĐ “chui” còn gây nhiều khó khăn cho công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài do không ai quản lý, nhất là khi gặp tai nạn, rủi ro. Hơn nữa, XKLĐ “chui” còn làm xấu đi hình ảnh lao động Việt Nam ở nước ngoài, gây ảnh hưởng không tốt chương trình hợp tác XKLĐ của nước ta với các nước.

          * Tăng cường các biện pháp quản lý

          Để ngăn chặn tình trạng XKLĐ trái phép, theo ý kiến của một số chuyên gia, cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Đối với chính quyền cơ sở, cần tăng cường công tác quản lý công tác lao động di cư tự do. Khi người dân xin xác nhận tờ khai thông tin cá nhân để làm thủ tục cấp hộ chiếu, chính quyền địa phương cần xem xét rõ thông tin, mục đích của việc xuất cảnh. Khi làm hộ chiếu, công an cần kiểm tra kỹ lưỡng hồ sơ, vấn đề xuất nhập cảnh của từng lao động.

          Ngành Lao động-Thương binh và Xã hội cần phối hợp các cơ quan truyền thông đại chúng phổ biến thường xuyên những vấn đề liên quan XKLĐ, từ cơ chế, chính sách của Nhà nước, danh sách các doanh nghiệp XKLĐ được cấp phép, đến các thị trường lao động, số lượng cần tuyển, điều kiện, thủ tục, mức phí đối với từng thị trường… để người dân dễ dàng nắm bắt được, tránh tình trạng người có nhu cầu đi XKLĐ bị “cò” môi giới lừa gạt.

          Đối với người lao động, khi có nguyện vọng đi làm việc ở nước ngoài nên trực tiếp đến cơ quan Lao động-Thương binh và Xã hội ở địa phương hoặc liên hệ với đường dây nóng của Cục Quản lý lao động ngoài nước để được giải đáp mọi vấn đề liên quan, không nghe theo môi giới.

          Về lâu dài, Nhà nước cần quan tâm tạo việc làm thường xuyên cho người lao động, nhất là khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, giúp người dân có thu nhập ổn định, vươn lên làm giàu trên chính quê hương, đất nước mình.

 

 


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



Tin liên quan

     Bình luận


    Mã xác thực không đúng.
      Bản đồ thị xã Kỳ Anh
       Liên kết website
      Thống kê: 187.887
      Online: 28