I. NÚI

     1. NÚI HOÀNH SƠN

     Hoành Sơn - dãy núi Ngang - ở phía nam huyện Kỳ Anh, xưa là biên giới tự nhiên giữa hai quốc gia Việt - Chiêm, nay là địa giới hai tỉnh Hà Tĩnh - Quảng Bình. Khối núi này chiếm một diện tích 1.500 km , kéo dài từ phía tây Vọng Liệu (Kỳ Anh) đến Tuyên Hoá (Quảng Bình) đến mút phía đông là mũi Đao, mũi Độc (Kỳ Nam). Núi chỉ có độ cao trung bình 400m, nhưng cũng có đỉnh cao tới 646m (như Động Nậy), hoặc 823m (ngọn Ba Cốc). Đèo Ngang vắt qua núi, từ phía bắc vào là đèo Con rồi đèo Nậy (256m). Từ vùng đèo Ngang chảy xuống, có nhiều dòng khe: khe Bò, khe Du, khe Di, khe Bàn Thạch ở mái bắc; khe Mộc Miên (khe Bông) ở phía nam. Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” chép “xã Hoằng Hoá, thuộc huyện Kỳ Hoa phía đông giáp châu Bố Chánh (Quảng Bình) có khe Mộc Miên làm giới hạn”.

      Hoành Sơn cũng là biên giới khí hậu bắc - nam. Phía Hà Tĩnh, mùa đông có gió mùa đông bắc mạnh, còn mùa hè gió Lào dữ dội; lượng mưa hàng năm rất lớn 3.000 mm/năm. Trong khi đó, Quảng Bình chỉ cách 10 km mà gió mùa rất yếu. Do điều kiện khí hậu, cây cỏ phát triển nhanh. Ngày xưa toàn bộ dãy Hoành Sơn bao phủ một thảm thực vật dày đặc, những cánh rừng bạt ngàn. Dưới lớp rừng ấy là đủ loại động vật quý: voi, hổ, tê, ngựa, hươu, nai, gà lôi, công, trăn, rắn… “Nhưng những “chú tiều” của bà Huyện Thanh Quan không còn thấy nữa, rừng đã bị tàn phá, bây giờ chỉ còn lại lau và cây bụi khô cằn, mọc trên đất đỏ vàng, che lấp những miếu nhỏ, những thành lũy đổ nát ngày xưa còn lại” (Thiên nhiên Việt Nam - SĐD). Ngày nay, những rừng thông, rừng gỗ mới trồng đã bắt đầu trải màu xanh trên mái núi.

       Nằm trên biên giới Việt - Chiêm thời xa xưa rồi thời phân tranh Trịnh - Nguyễn và sau này là vị trí quân sự hiểm yếu, Hoành Sơn luôn luôn là đất chiến địa, đất của gươm đao, súng đạn. Suốt trong quá trình lịch sử, cho đến những ngày chống Mỹ, ở đây không mấy buổi được yên. Huyền thoại về công chúa Liễu Hạnh cũng dựng lên hình ảnh cuộc đấu giữa bà chúa Liễu với Bát bộ kim cang... (1) . Nhưng luôn luôn Hoành Sơn vẫn là một danh thắng nhất nhì ở Nghệ - Tĩnh, với cảnh đèo Ngang kỳ tuyệt, với luỹ cổ Lâm Ấp đồ sộ, với cửa quan Hoành Sơn, với bảo Thống Lĩnh (Xuân Sơn). Phạm Quý Thích (1760 - 1825) có câu thơ về cảnh thiên nhiên bao la (Thái Kim Đỉnh dịch):

      “Cát trắng mênh mông, mây cát sôi

       Ngàn xanh thăm thẳm, bể xanh trôi...”

       Còn Nguyễn Trường Tộ (1828- 1871) lại có câu thơ nhắc lại dấu vết trường tồn của con người (Thái Kim Đỉnh dịch):

      “Luỹ chiến đổ rồi, còn vết cũ,

      Bia vua dựng đó, dấu non thiêng”.

      Và cụ Nghè Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) cũng có bài thơ “ Qua núi Hoành Sơn ” với mấy câu:

      “... Một đường xe điện dừng không đứng,

      Hai cánh rừng cây dậy muỗi bay.

      Thử hỏi nghìn năm hồn nước cũ,

      Hồng Lam danh thắng vẫn xưa nay”

    2. NÚI BÀN ĐỘ

      Núi Bàn Độ, tục gọi rú Đọ hay rú Ba Đọ, ở làng Đậu Xá. “ Đại Nam nhất thống chí ” chép ở làng Phú Duyệt, tổng Đậu Chử, nay là xã Kỳ Khang. Sách “Kỳ Anh phong thổ ký” của Lê Đức Trinh mô tả: “Núi nổi lên giữa thôn Đậu Xá cao lớn, rậm rì, phía đông ra tới bể. Trên núi bằng phẳng trông giống như cái mâm vàng đặt qua mặt bể nên gọi là núi Bàn Độ”. Trên núi có đầm, gọi là đầm Tiên. Tương truyền “ngày xưa tiên nữ xuống chơi đầm ấy” (Nghệ An ký) . “Lại có một tảng đá lớn như bàn cờ, tương truyền đó là bàn cờ tiên. Những hòn đá nhỏ la liệt xếp trên đó giống như là những quân cờ. Hành khách đi qua xáo trộn đi, lúc trở về lại thấy đã được sắp lại như cũ. Đây còn là việc mơ hồ, không xác thực...” ( Kỳ Anh phong thổ ký ). Trên núi lại có ngôi chùa cổ, các sách xưa chép là chùa Bàn Độ, còn nhân dân thường gọi là chùa Ngâm (?). “Phía tả chùa có suối dài bảy, tám trượng trên không có nguồn, dưới sâu không đáy, ngày đêm nước chảy, rất trong mát” ( Đại Nam nhất thống chí - Tập II- Bản của Quốc sử quán). Sách Đại Nam nhất thống chí (tập 13, Các tỉnh địa dư chí - 1909) chép thêm: "phía trước chùa có cái kênh nhỏ thông ra biển. Ngày nay cửa kênh đã bị bồi lấp thành đất bằng, nước suối không có nguồn thông, ngày đêm phun tràn rất mạnh. Tương truyền xưa có đám dân đánh cá người Thanh (Trung Quốc) ghé thuyền vào kênh, huênh hoang làm thơ (1) rồi lên núi dựng chùa, làm nhà để trú ngụ khi đến biển Nam đánh cá”.

       Gần núi Bàn Độ, ở địa phận xã Kỳ Ninh có ngôi đền thờ Chế Thắng phu nhân Nguyễn Cơ Bích Châu. Người xưa kể thêm một truyền thuyết về núi: “Khi Trần Duệ Tông (1372 - 1377) đi đánh Chiêm Thành, thuyền đến dưới núi không tiến lên được. Vua phải lấy một cung nhân để vào một cái mâm vàng đem thả xuống nước cho thuỷ thần thì thuyền đi được” (Nghệ An ký). Từ hình núi “trông giống như cái mâm vàng đặt qua mặt biển” và từ truyền thuyết “lấy một cung nhân để vào cái mâm vàng thả xuống biển mà người ta luận ra chữ “Kim bàn độ hải” rồi cho rằng đó là xuất xứ của tên núi. Kỳ thật, Bàn Độ chỉ là phiên âm tên nôm rú Đọ, Ba Đọ. (Có người còn đọc là Bán Độ, nửa đường).

        Phía đông núi Bàn Độ (ở làng Trung Giáp xã Kỳ Khang) còn có ngôi đền Thánh mẫu (chưa rõ Thánh mẫu đây là bà Bích Châu, hay Thánh mẫu Càn vương, tức bà Thái Hậu nhà Tống như có người nói). Ở mé nam, còn di tích ngôi chùa Đá. Câu ca “lắm hươu Bàn Độ” gợi lên cảnh rừng Bàn Độ giàu có xưa và câu ca “có Hoành Sơn, Bàn Độ mới dĩnh sinh nhân tài” đã chứng minh vị trí của núi trong đời sống tinh thần, văn hoá của đất Kỳ Anh. Từ Dinh Cầu nhìn ra, Hiệp trấn Hoàng giáp Bùi Huy Bích (1744-1818) có câu thơ vịnh cảnh núi Bàn Độ (Thái Kim Đỉnh dịch):

       “Nửa bức che ngang diềm bãi cát

        Làn mây sà xuống trước châu thành”

       Trước đó, năm Giáp Ngọ (1774), các cống sỹ xứ Nghệ về ứng điểm ở Dinh Cầu, đường vào qua dưới núi, có người đề xướng làm thơ vịnh, lấy vần “bàn”, hẹn đi vài chục bước phải xong. Bài thơ “Bàn Độ sơn” của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (1723- 1804) được bình là hạng nhất. Về sau, còn rất nhiều thi sĩ làm thơ về ngọn núi này... (2).

 

       (1) Sách Kỳ Anh phong thổ ký chép bài thơ như sau:

        Ngư hàng xuất hải (thuyền chài ra biển)

        Nhập để trung châu (vào làm vua trung châu)

        Tiền nhất ba vi nhất quân (trước mỗi ngọn sóng là một tên quân)

        Hậu nhất sơn vi nhất mã (sau mỗi ngọn núi là một con ngựa)

         Quả thật bài thơ không có giá trị gì, có lẽ đây chỉ là câu hát của dân đánh cá Tàu.

        (2) Ở làng Vĩnh Ái, nay thuộc Kỳ Khang, còn có rú Hương, các sách cổ chép là núi Càn Hương. Dân gian thường gọi hai ngọn núi này là “Ông Hương, bà Độ”

        3. NÚI CAO VỌNG

        Núi Cao Vọng có nơi chép Cao Vương, tục gọi Rú Voong, ở xã Bình Lễ, sau là xã Vĩnh Áng, tổng Hoằng Lễ nay thuộc xã Kỳ Lợi. “Núi nổi cao hai ngọn xế ra biển, phía nam là núi Ô Tôn (phiên âm tiếng Dòn), phía đông liền với biển; có vũng bao quanh như cái ao, gọi là núi Yên Ao. Dưới chân núi có giếng đá, tục gọi là giếng Ếch vị nước rất ngọt. Thuyền buôn qua lại đều tới đây lấy nước uống. Ngày trước ở đây có đồn thú canh giữ” ( Kỳ Anh phong thổ ký ).

       Năm 1407, quân Minh mượn cớ đánh nhà Hồ, đưa quân sang xâm lược nước ta. Họ Hồ thua, chạy vào Châu Hoan. Nhưng Hồ Quý Ly đến núi Thiên Cầm, đất Kỳ La, thì bị bắt. Còn Hồ Hán Thương, cùng thái tử Nhuế cũng bị đầu mục của Mạc Thuỷ là Nguyễn Như Khanh bắt ở núi Cao Vọng. Ngày nay, ở núi Thiên Cầm có “hang Hồ Quý Ly” và ở núi Cao Vọng cũng có “hang Hồ Hán Thương”. Sự kiện này còn được chép trong sử sách và truyền đi bằng hai câu thơ cổ:

      “Kỳ La hải khẩu ngâm hồn đoạn

      Cao Vọng sơn đầu khách tứ sầu”

      Thái Kim Đỉnh dịch:

      Trước cửa Kỳ La hồn thơ tắt

      Đầu non Cao Vọng dạ người đau.

      Bùi Huy Bích, trong bài thơ “ Vịnh núi Cao Vọng ” cũng có câu:

     “ Trương Phụ lai thời thanh thạch lão

      Hán Thương khứ hậu bạch vân lưu”.

      Thái Kim Đỉnh dịch:

      Đá cũng bạc đầu, Trương Phụ đến

      Mây còn trắng núi, Hán Thương đi.

      Trên núi Cao Vọng lại có ngôi đền thờ thần Sát Hải (1) và miếu thờ ông ba họ Chu.

 

     (1) Sát Hải tướng quân là vị tướng đời Trần, tên là Hoàng Tá Tốn, quê ở cửa Vích (Quỳnh Lưu) có công trong cuộc chống Nguyên Mông, được sai trấn giữ mạn biển Nghệ An (Nghệ Tĩnh), sau dân nhiều nơi lập đền thờ. Ở Kỳ Anh lại có truyền thuyết: Ông quan giữ cửa Khẩu báo việc bão tố, bị nghi, rồi bị giết oan. Dân lập đền thờ.

       II. SÔNG NGÒI

       1. SÔNG TRÍ

       Sông Trí bắt nguồn từ núi Yên Ngựa (Mã Yên), chảy theo hướng nam qua địa bàn các xã Kỳ Tân, Kỳ Hoa, rồi chảy về hướng đông, bao quanh Dinh Cầu (Kỳ Châu) chảy qua phía bắc xã Kỳ Hưng, phía nam xã Kỳ Hải, đến ngã ba sông Văn Yên (Kỳ Hà) thì hợp lưu với sông Quyền đổ về cửa biển Hải Khẩu, dài 26 km với lưu vực 57 km . Sông Trí là đường thuỷ quan trọng, thuyền buôn từ Ròn (Quảng Bình) vào cửa Khẩu, thuyền trong tỉnh qua sông Kênh Hạ rồi ngược sông Trí đến chợ Dinh Cầu (Thị trấn Kỳ Anh). Sông Trí cũng là nguồn thuỷ lợi tưới cho đồng điền vùng giữa của huyện, là cơ sở để xây dựng công trình cung cấp nước sạch cho một vùng rộng lớn. Hiện nay nguồn nước hồ Kim Sơn đã cung cấp cho Nhà máy nước Thị trấn Kỳ Anh (công suất 3.000 m /nđ), nhà máy nước Vũng Áng (công suất bước đầu 40.000 m /nđ; dài hạn sẽ là 100.000 m /nđ. Đoạn sông qua Thị trấn và các xã lân cận đã được kè đá chống xói lở và mở đường hai bên, tạo nên quang cảnh trên bộ dưới thuyền thông thoáng tiện lợi.

http://kyanh.hatinh.gov.vn/kyanh/static/uploads/ckeditor/images.thumb.a1ed78a7-0f27-4026-a8ad-fbf321c57fcb.jpg

Sông Trí ( Ảnh: Thế Nghĩa)

      2. SÔNG VỊNH (SÔNG CỬA KHẨU)

       …"Cá lui về sông Vịnh, chim ngược ngàn kiếm đôi" là câu hát của người Hà Tĩnh nói về con sông này. Sông Vịnh là đoạn cuối của sông Kinh Hạ, dài trên 10km; nơi rộng nhất là 300 - 400 m, sâu nhất là đoạn chảy qua thôn Xuân Hà, Hải Khẩu ra tận cửa biển. Sông Vịnh ngày xưa đến Hói Lỗ thì chảy ngược lên Ngọn Troong mà ra biển. Giữa các thôn Đồng Nghĩa, Yên Điềm còn di tích cồn Sèng. Sau khi ông Quận Phạm Tiêm cho "lấp Cửa Lỗ, trổ Eo Bù" , sông chảy thẳng về phía núi Cao Vọng, ra cửa Khẩu như bây giờ.

        Sông Vịnh rộng và sâu, tàu thuyền lớn chở hàng chục tấn có thể ngược lên 5-10km, vào đến chợ Ngâm làng Thuận Định. Trong bài Văn tế sống Hội Lựu (một nhà buôn ở thôn Hải Khẩu trước năm 1945), tác giả là thầy Chỉnh đã ghi lại cảnh buôn bán ở đây:

        ..." Kẻ Kinh, Quảng thông thương- Người Trung hoa du lịch ;

        …" Nào Nghệ An, Nam Định, Hà Nội, Hải Phòng,

        Nào thuyền nào bến nào buồm gió chèo trăng

        Sống cạnh tranh đeo đuổi cảnh thương thuyền

        Cuộc tài hoá đã từng phen gióng giả …"

        Sau năm 1945, xí nghiệp vận tải vôi Sơn Hải và tàu thuyền huyện Kỳ Anh củ đã nhờ đường sông Vịnh mà kinh doanh phát đạt một thời. Sông Vịnh vừa tạo điều kiện để phát triển các đồng muối lớn, các vùng rừng ngập mặn vừa là môi trường sống lý tưởng của các loài hải sản (tôm, cua, ngao, hàu, sam, sứa, hải sâm, giun biển, cá ngứa, cá mú, cá vược, các loài chim (cò, cói, sếu, vạc, vịt trời).

      3. SÔNG QUYỀN

       Sông Quyền là tên phiên âm chữ Hán-Việt của sông Quèn, mà thượng nguồn là toàn bộ các khe suối từ dãy Hoành Sơn đổ xuống (khe Luỹ, khe Dâu, khe Miên, khe Đá Hát, khe Đầu Voi, khe Đá Bàn) qua địa phận các xã Kỳ Phương, Kỳ Liên, Kỳ Long, đến Kỳ Thịnh, Kỳ Lợi, Kỳ Trinh thì lòng sông mở rộng dần, có tên sông Quèn. Từ đây sông chảy lên đông bắc lại sang tây bắc, gặp sông Trô rồi chảy về hướng đông, hợp lưu với sông Trí ở địa đầu xã Kỳ Hà, đổ vào lạch Quèn, hoà cùng sông Vịnh mà ra cửa Khẩu. Toàn bộ hệ thống sông Quyền dài 34 km, có lưu vực rộng 216 km 2. . Sông Quyền nối với sông Vịnh, tiếp nối với kênh Hạ (kênh đào) là con đường thuỷ thông suốt từ phía bắc huyện Kỳ Anh vào tận Thần Đầu (Kỳ Phương).

      4. KÊNH THẦN ĐẦU

       Kênh Thần Đầu (“ Đại Nam nhất thống chí” chép là kênh mới Thần Đầu), đào năm Tự Đức (1859) nối các khe ở xã Thần Đầu (Kỳ Phương, Kỳ Liên) với khe Đá Hát từ Kỳ Long xuống, chảy vòng vèo qua Kỳ Lợi, Kỳ Thịnh đến ngã rào Ngã Ba rồi đổ vào sông Quèn tạo nên con đường thuỷ thông từ mé bắc huyện vào gần mé ngoài dịch trạm Thần Đầu xưa, chẳng bao lâu kênh bị cát lấp. Phía Phác Môn (Kỳ Lợi) có đoạn kênh đào dở dang dài chừng 300 m gọi là hói Bền. Tương truyền con kênh này dự định đào thông từ sông Quèn ra biển, do ba ông họ Chu đề xướng và chỉ huy động dân địa phương làm từ đời Lê. Công việc chưa xong thì cả ba ông đều chết. Dân nhớ công lao lập miếu thờ các ông ở chân núi Cao Vọng.

      5. GIẾNG VỌT (VIỆT TỈNH TUYỀN)

      Giếng Vọt không phải là giếng, cũng không phải là khe lộ thiên, mà là một suối nước ngầm, nước phun ra mé một ngọn đồi nhỏ ở làng Hưng Nhân, xã Phú Nghĩa, nay thuộc địa phận thị trấn Kỳ Anh. Sách “Nghệ An ký” mô tả “Một dải gò động bằng phẳng, thung lũng rộng lớn, liên lạc với núi Hoành Sơn, vách đá cheo leo, cây cối xanh tốt, từ trong hang đá chảy ra một dòng suối mát trong sạch, thơm ngon. Dân địa phương lấy cây gỗ khoét rỗng làm máng hứng nước như máng mái nhà hứng nước mưa. Nước suối chảy ra tưới các ruộng, nên lúa đều được xanh tốt. Tương truyền ngày xưa có một viên Đốc trấn cấm dân không được lấy nước suối ấy, thì tự nhiên suối bế tắc lại, không chảy nước ra nữa. Sau nghe lời một tiên sĩ, giết trâu cúng thần và bãi lệnh cấm, thì suối lại chảy ra như trước” (1) . Cũng sách này chép: “Nước ở Nghệ An (Nghệ Tĩnh), có ba nơi được khen là giai phẩm: một là sông La ở huyện La Sơn, hai là suối Việt Tỉnh ở huyện Kỳ Hoa, ba là khe Hau Hau ở núi Nam Giới, huyện Thạch Hà”.

         Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” cũng chép “Suối Việt - đông (tức giếng Vọt) ở bên tả trấn thành, một dải sườn núi bằng phẳng, thung lũng rộng rãi, nối liền với núi án ngữ của trấn. Ở bên đó có núi đá đứng thẳng như vách, cây cối um tùm, trong khe đá chảy ra suối nước trong mát, ngon ngọt. Người biết thưởng thức vị nước, cho nước suối ấy ngon nhất ở Hoan Châu”. Giếng Vọt nước quý, lại là kỳ quan ngày trước. Hoàng giáp Bùi Huy Bích (1744 - 1818) khi làm quan ở đây, thường đến chơi bên suối và có bài thơ “ Vịnh Việt tỉnh” nguyên văn chữ hán, Thái Kim Đỉnh phỏng dịch:

         Một phiến đá mé Hoành San

        Từ xưa, đệ nhất Châu Hoan suối này.

        Nghe róc rách dưới rừng cây,

        Lâng lâng làn khói nhẹ bay, mơ màng.

       Đời đời dòng nước xuyên ngang,

       Người qua nào thấy bóng Hằng nga đâu.

       Lòng trần lay tận đất sâu

      Đến đây tắm rửa sạch làu, nhẹ lâng.

 

       (1) Sách Nghệ An ký còn chép bài thơ “Quá Việt tỉnh cương” của Đỗ Tử Vi đời Trần, và cho rằng bài thơ ấy vịnh giếng Vọt ở Kỳ Anh, là lầm. “Việt tỉnh cương” trong bài thơ của Đỗ là ở vùng Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh, nay thuộc Hà Bắc. Dưới đây là nguyên văn bài thơ của Bùi Huy Bích “ Vịnh Việt tỉnh ” ở Kỳ Anh:

      “Phiến thạch Hoành Sơn bạn,

      Hoan Châu đệ nhất tuyền.

      Sàn sàn xuyên mật thụ,

      Tế tế dạng khinh yên.

     Lưu thủy mạn chung cổ,

     Hành nhân bất ngộ tiên.

      Trần tâm huy mặc địa,

      Tẩy chước tạm phiên nhiên”.

       III. BIỂN

        Kỳ Anh có hai cửa biển: Cửa Khẩu và cửa Nước Mặn. Cửa Khẩu tức là Hà Hoa hải khẩu, ở địa phận xã Hải Khẩu (nay là xã Kỳ Ninh). Những con sông lớn nhất huyện (sông Kinh, sông Trí, sông Quyền) và nhiều khe hói khác từ ba hướng bắc, tây, nam đều dồn nước vào một vũng biển nhỏ gọi là sông Vịnh, hay sông Cửa Khẩu, dài 4 km, rồi đổ ra biển. Đời Lê, nhất là từ khi có trấn lỵ Dinh Cầu, cửa Khẩu là cửa biển quan trọng đối với việc cung cấp vật chất và bảo vệ trấn thành (2) .

       Phía nam mé Hoành Sơn, thuộc địa phận thôn Ngưu Sơn, xã Hoằng Hóa (sau là xã Thần Đầu, nay là xã Kỳ Nam) có cửa Xích Mộ (Nước Mặn). Cửa này nay bị bồi lấp, nhưng ở thế kỷ 15 còn rộng, cả đội chiến thuyền có thể vào được.

 

       (1) Theo tài liệu của Hoàng Thái Cát- Bản Thanh Minh ghi (Trong tư liệu của TKĐ) có mấy chỗ khác.

       (2) Ở xã Kỳ Ninh dọc bãi biển bồi trên lạch cũ cửa Khẩ, có vô số mảnh gốm,mảnh sành đủ các loại hình gốm sành lẫn trong cát. Do đo,có ý kiến cho ràng của Khẩu, xưa là “thương cảng lớn”. Chúng tôi cho nhận xét này chưa đủ căn cứ. Có hai giả thuyết: hoặc xưa có lò gốm của người Chàm, người Việt ở đây; hoặc sóng biển đã dồn những mảnh gốm từ nơi khác đến (như hiện tượng thường có). Qua lịch sử, ta thấy có thể từ thế kỷ X, đat là nơi qua lại của thuyền chiến, thuyền lương Chàm. Còn dưới các triều Trần, lê, nhất là sau khi có trấn lỵ Dinh Cầu, cửa Khẩu là nơi đóng thủy quân bảo vệ trấn dinh. Đường vận tải hàng cung cấp cho Dinh Cầu đi qua kênh chỉ có thể nơi qua lại, ẩn nấp của thuyền cá, thuyền buôn (kể cả thuyền nước ngoài) mà thôi.

      1. CỬA KHẨU

      Cửa Khẩu là tên gọi tắt của “Kỳ Hoa hải khẩu”- Cửa biển Kỳ Hoa (ở đây, chữ “Hải Khẩu” là danh từ chung được dùng như danh từ riêng). Có sách xưa, như “Nghệ An ký” chép là “Khẩu hải khẩu”, hay như “Lịch triều hiến chương loại chí” chép là “Cửa Loan Nương”. Cửa Khẩu nằm trên toạ độ 106,21 ’ 36 ’’ độ kinh đông và 18,06 ’ 48 ’’ độ vĩ bắc, thuộc địa phận xã Hải Khẩu (nay là xã Kỳ Ninh). Sông Kinh từ phía bắc, sông Trí từ phía tây và sông Quyền từ phía nam cùng đổ ra một vũng nhỏ dài khoảng 10 km, rộng từ 300- 400m (nước lên có thể rộng tới 1.000 m) sâu 3-4 m đến 7-8 m, có tốc độ chảy 0,5m/giây gọi là sông Cửa Khẩu hay là sông Vịnh. Ca dao: “Cá lui về sông Vịnh, chim ngược ngàn kiếm đôi” . Lạch sông và cửa biển thời xa xưa đi về phía bắc, sát gần rú Đọ, còn bây giờ đã chuyển về phía nam, mé rú Voong.

     Trong lịch sử, cửa Khẩu, là cửa biển quan trọng ở nam Đại Việt. Nhiều sự kiện quan trọng đã xảy ra ở đây. Sử sách ghi chép là vào thời thuộc nhà Tùy, tháng Giêng năm Ất Sửu (605). Hoan Châu đạo hành quân tổng quân Lưu Phương và bọn đại tướng Trương Tốn đem quân từ cửa biển quận Tỵ Ảnh (cửa Sót hay cửa Nhượng) vào đánh Chiêm Thành. “Tháng ấy quân đến cửa Hải Khẩu”.

     Người Cham-pa từ khi lập quốc, TKII, thường đưa thuyền vào cửa Khẩu và cửa Nước Mặn cướp phá, bắt người. Trong các đợt vượt Hoành Sơn lấn chiếm đất Đại Việt (803-808 và khoảng 907, 910- 981), cửa Khẩu có vị trí quan trọng đối với quan, quân của họ. Chắc chắn là thuyền chiến, thuyền lương của họ phải đóng chốt và qua lại ở đây để phục vụ cho việc cai trị vùng chiếm đóng. (1)

      Thời Lý, Trần người Chiêm Thành thường hay đến cướp phá ven biển hoặc bắt người bán vào Chân Lạp, nên ở cửa Khẩu có đồn binh canh giữ. Sau khi đào sông Kinh Hạ, thuyền bè từ bắc vào thông đến cửa Khẩu ra biển.

      Đời Lê, từ các cuộc nội chiến Lê- Mạc, Trịnh-Nguyễn, cửa Khẩu càng trở thành vị trí quân sự trọng yếu. Ở đây có một đội giã (thuỷ quân) có khoảng 300 người đóng giữ để bảo vệ Trấn lỵ Dinh Cầu và bờ biển phía nam. Khoảng mồng ba đến mồng 6 tháng 6 năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ kéo quân ra diệt Trịnh đến cửa Khẩu. Đó là một sự kiện lịch sử quan trọng sau việc hai ông vua Trần Duệ Tông và Lê Thánh Tông đi qua đây vào các năm 1377 và 1470-1471. Đời Nguyễn, vị trí cửa Khẩu không còn như trước nữa nên chỉ đặt tấn cửa Khẩu một tấn thủ trông coi, kiểm soát thuyền bè đi lại.

     Ngày 11 tháng Chạp Hồng Đức năm đầu (1470) vua Lê Thánh Tông “Đóng quân tại cửa bể Hà Hoa, đêm khuya ngồi nghe tiếng mưa, sinh lòng thương cảm” (Nguyên chú), có bài thơ, Ngô Linh Ngọc dịch:

     “Ngủ tựa đầu nhan thuyền lạnh vắng,

     Rèm xanh mỏng tựa cánh ve xanh

     Gió đông vỗ biển trời muôn dặm

     Đêm tối tràn mưa mộng mấy canh

     Hun hút tầm xa nhoà sóng nước,

     Vèo trôi ngày tháng tiếc thời gian

     Luống thương chiến sĩ dầm chân đất,

     Chết thiếu tiền mua cỗ áo quan”.

    Nhà vua còn có bài “Nghỉ lại ở cửa biển Hà Hoa”, Đỗ Ngọc Toại dịch:

    Mưa mai mù mịt bến Hà Hoa,

    Ngắm bể mênh mang bốn phía xa.

    Mây mến đầu non lơ lửng đứng,

    Sóng theo con nước rập rờn qua.

    Thủy tiên đầm nọ đầy sương ráng,

    Chế Thắng đền kia rực cỏ hoa.

    Say tựa bên mui càng nảy hứng,

    Lòng thơ dạ khách khó khuây khoa”.

    2. CỬA XÍCH MỘ (NƯỚC MẶN)

     Cửa Xích Mộ cũng đọc Xích Lỗ hay Tích Lỗ (cửa Nước Mặn) chảy qua địa phận làng Ngưu Sơn, tổng Hoằng Lệ, sau là thôn Minh Đức nay là xã Kỳ Nam. Nước Khe Bò, khe Du, khe Di từ đèo Ngang đổ xuống, tạo thành con sông nhỏ cùng tên, chảy mé đông bắc dãy Hoành Sơn rồi đổ xuống cửa biển này. Con sông và cửa biển Xích Mộ nằm tách biệt khỏi hệ thống sông ngòi trong huyện. Ở thế kỷ XV, cửa biển Xích Mộ khá sâu, rộng. Đoàn thuyền chiến của vua Lê Thánh Tông, đi đánh Chiêm Thành năm 1470- 1471, đã đỗ lại đó. Nhà vua có bài thơ "Xích Mộ hải môn lữ thứ” (Nghỉ lại cửa biển Xích Mộ), Ngô Linh Ngọc dịch:

     “Trên sông Xích Lỗ lướt chèo hoa,

      Đất khách bâng khuâng nỗi nhớ nhà.

     Phòng biển sông quây thành vách luỹ, (2)

     Đầu mom tre đẵn ghép rui xà.

     Thuyền về bến vạn cơn mưa giục,

     Triều tới ven bờ ruộng Lạc xa.

     Chạnh nhớ ngày xưa gương sáng để,

      Đè mây vượt sóng bước xông pha”.

     Sách “An Tĩnh cổ lôc” (SĐD) viết: “Trong vùng đồng bằng Hoằng Lễ chúng ta thấy khe Bò uốn lượn để đổ ra cửa Xích Mộ. Chắc rằng cách đây vài ba thế kỷ, cửa sông này phải nằm dịch ra phía bắc, vì có một công sự phòng ngự lối qua lại đây đã bị chôn vùi dưới đồi cát, nằm theo chiều tây bắc- đông nam”.

     Cửa Xích Mộ xưa đã bị bồi lấp, nằm ở vị trí thôn Minh Đức bây giờ. Cửa biển bây giờ chuyển xuống phía nam, hẹp và cạn.

 

(1) Năm 803 quân Hoàn Vương (Chămpa) tràn sang đánh đuổi quân đô hộ nhà Đường, chiếm hai châu Hoan, Ái (Thanh Nghệ Tĩnh) đến năm 808, tướng nhà Đường là Trương Chu sang cai trị Giao Châu mới đẩy lùi được. Lại năm 907-910, người Chiêm Thành (Chămpa) lại lấn chiếm vùng bắc Đèo Ngang ra tận núi Nam Giới, và đặt quân cai trị 70 năm. Năm 981- Lê Đại Hành mới vào đánh đuổi được (Xem phần thứ hai).

(2) Đời Lê ở đây có đồn hải phòng, do đội lính thú canh giữ. Nguyên văn câu này “Chử đầu hải thú hà vi bảo”; có bản chép “Đào đầu hải thú sa vi bảo” (Đầu sông, đồn canh biển cát dồn lên làm luỹ)

 

Bản đồ thị xã Kỳ Anh
 Liên kết website
Thống kê: 187.874
Online: 16